Make your own free website on Tripod.com

 

 

KQVN 1956-1963

Gman

 

Thử viết lại theo trí nhớ những gì xảy ra trong thời gian này là một việc làm khó khăn trong tuổi 70, nên xin các bạn bổ túc những thiếu sót nếu cần.  Sở dĩ chọn cái khung thời gian này vì dựa trên nền tảng lịch sử của nền Đệ Nhất Cộng Hòa của miền Nam tự do, chứ không dựa trên những chương trình phát triển KQVN của Phái Bộ Cố Vấn Hoa Kỳ mà người viết không hề biết.  Việc này có thể sưu tầm thêm trên các web site VNAF, nhưng các dữ kiện trên web site có thể chỉ đúng về phần tiếp liệu chiến cụ mà thôi, chứ về tổ chức thì người soạn web site cũng đoán lờ mờ, có nhiều điểm sai mà họ cũng chẳng biết do đâu mà ra.

 

Giai đoạn từ năm 1956 đến năm 1963, KQVN tăng quân số từ khoảng trên dưới 3,000 người lên đến con số vào khoảng 7,000 người vào năm 1960,  và lên đến  khoảng 16,000 người vào cuối năm 1963.  Cấu trúc lực lượng không có gì thay đỗi, so với tổ chức do Pháp để lại, nghĩa là theo lối Căn Cứ Trợ Lực Không Quân và Phi Đoàn hay Liên Phi Đoàn chiến đấu.  Các cơ sở trung ương cũng không thay đổi mấy.  Điều khác biệt chính yếu là Mỹ đã manh nha đưa quân vào Việt Nam để thực hiện công cuộc ngăn chận sự bành trướng của khối cộng, mà phía cộng sản thường gọi là “be bờ”(containment).  Do đó, Mỹ đã đưa vào Việt Nam một số đơn vị huấn luyện chiến đấu cho VNCH, như 34th Air Force Group ở phi trường Biên Hòa với máy bay B-26 và T-28. Lục Quân Không Binh Hoa Kỳ cũng có H-21 để tập hành quân trực thăng vận và tải thương ở khắp các vùng chiến thuật.  Mỹ đặt tại Tân Sơn Nhất các loại vận tải cơ C-123 để thả dù tiếp tế và xịt thuốc khai quang và một số ít C-47 để dùng liên lạc nội địa Việt Nam. Lục Quân Không Binh cũng có các loại vận tải cơ như Caribou có thể tiếp tế đáp được trên các phi trường đất nện của các đồn điền của người Pháp.  Để điều hành hành quân trên không một cách tổng quát, hệ thống điều kiểm chiến thuật(TACS=Tactical Air Control System) cũng được mở mang, như thành lập Trung Tâm Hành Quân Không Quân ở TSN(TACC=Tactical Air Control Center)thay thế Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến, và các Trung Tâm Hành Quân Không Trợ (ASOC=Air Support Operation Center, sau này đổi lại thành DASC=Direct Air Support Center) nằm cạnh các Trung Tâm Hành Quân Quân Đoàn ở Đà Nẳng, Pleiku, Biên Hòa và Cần Thơ.  Riêng TTHQKT3 ở Biên Hòa được thành lập sau các nơi khác vì trước đó nhiệm vụ này do TTHQKQ tại TSN phụ trách.  Các phi trường được sửa lại hay xây cất phi trường mới.  Phi trường Tân Sơn Nhứt có hai phi đạo 24 song song nhau và dài 10,000bộ (tức 3,000m), còn phi đạo cũ Bắc Nam vẫn duy trì nhưng ít hoạt động khi hoàn tất hai phi đạo 24.  Phi đạo Đông Tây ở Biên Hòa cũng được làm mới hoàn toàn, nằm ở đầu phi đạo 33 vỉ sắt cũ về phía Bắc.  Trong lúc các phi trường này được nới dài hoặc xây cất mới thì hoạt động hành quân các nơi đó phải được dời nơi khác.  Phi trường Cù Hanh ở Pleiku cũng được xây mới, thay thế phi trường đất đỏ lót vỉ sắt đen của Pháp để lại.  Các phi trường Nha Trang và Đà Nẳng cũng được mở rộng và nới dài để sau này đón nhận phản lực cơ.  Song song với việc xây dựng phi trường, một số bộ chỉ huy đơn vị cũng được xây cất mới.  Và công tác của hãng thầu xây cất kéo dài qua thời kỳ thứ ba, sau 1963, như các nhà sở của Bộ Tư Lệnh Không Quân sau này, các Bộ Tư Lệnh của 2nd ADVON(Second Air Division) mà sau này nhường chỗ cho 7th Air Force, và sau cùng chúng ta đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân ở đó, thêm Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp Không Quân.  Các đài radar trong hệ thống điều kiểm chiến thuật của Mỹ đều giao cho KQVN điều hành song song với một lực lượng cố vấn hùng hậu, coi như Không Quân Hoa Kỳ có đủ nhân vật lực để hoạt động song song với KQVN.  Có tất cả năm đài cố định đặt tại Đà Nẵng, Pleiku, Ban Me Thuot, Tân Sơn Nhất và Cần Thơ.  Nhiệm vụ các đài này là điều kiểm chiến thuật chứ không chính xác dùng vào việc phòng không.(So với miền Bắc Việt Nam lúc đánh nhau nhiều, miền Bắc có đến 600 đài GCI [Ground Control Intercept] phối trí khắp nơi và có tính cách di động hoàn toàn.)  Nhờ vậy, hệ thống truyền tin tinh vi của Hoa Kỳ đã giúp KQVN hoạt động suôn sẻ và nhanh chóng hơn hệ thống chỉ huy hành quân của Lục Quân Việt Nam, nhờ các đường dây nóng (hot line), cứ dở lên là nói thẳng với nơi mình muốn, chứ không còn dùng truyền tin dã chiến hét la ồn ào như trước kia.  Những đóng góp của Hoa Kỳ trong thời gian này thật là vĩ đại, đầu tư rất nhiều tiền, vì họ đã chuẩn bị sẵn sàng đưa đại quân vào Việt Nam.  Sau này, chúng ta thấy rõ những chuyển biến quan trọng hơn khi Hoa Kỳ tham chiến thật sự, và KQVN cũng nhờ vậy mà học hỏi thêm nhiều để trưởng thành nhanh chóng.

 

Trong khi đó thì KQVN phải chịu đựng quay cuồng trong chiến tranh một ngày một gia tăng.  Lại phải gánh vác nhọc nhằn huấn luyện chuyenå tiếp trên nhiều loại phi cơ như từ F-8F qua A-1H, từ H-19 qua H-34.  Phải gửi người du học Mỹ về lái máy bay, về kỹ thuật và tiếp liệu, về chỉ huy & tham mưu, nên có thể nói là con người phải chia năm xẻ bảy mới hoàn tất được trách nhiệm của mình.

 

Trong ngành khu trục, Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát có một lúc ba loại máy bay dưới sự điều hành kỹ thuật của các anh như Dương Xuân Nhơn, Bùi Quang Đài, Bồ Đại Kỳ, Nguyễn Minh Tiên, Quảng Đức Phết, Phan Đàm Liệu.  Rất là khó khăn cho quân số chung của Phi Đoàn vào khoảng 450 người mà cấp chỉ huy kỹ thuật & tiếp vận chỉ có Trung UyÙ mà thôi.  Thật là một cố gắng vượt bực để có thể duy trì một hoạt động bay không nguy hiểm cho hoa tiêu, chứ đừng nói gì tiêu chuẩn này nọ.  Tuy vậy, thành tích hoạt động bảo trì và tiếp liệu rất tốt.  Các phi cơ F-8F tuy gặp nhiều tai nạn hiểm nghèo cho người bay, nhưng rất ít do lỗi kỹ thuật mà chỉ vì máy bay quá cũ không còn chịu sức kéo mạnh cần thiết khi hành quân.  Vì thế, anh Lưu Văn Đức đã tử nạn trên chiến trường.  Ngoài số Bearcat khoảng 20 chiếc, Phi Đoàn còn có 9 chiếc T-6G đưa từ Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang về để dạy các khóa sinh tốt nghiệp trên L-19A trở thành hoa tiêu khu trục.  Bắt đầu năm 1960, Phi Đoàn tiếp nhận thêm mỗi đợt 6 chiếc A-1H cho đủ số 25 theo cấp số phi cơ.  Do đó, số sĩ quan lưu lại Phi Đoàn này để huấn luyện từ 1960 trở về sau lên rất cao, làm tổng số sĩ quan lên gần 50 người mà số hoa tiêu hành quân được chỉ có 20 người, kể cả cấp chỉ huy đơn vị.  Chỉ huy trưởng phi đoàn lúc ấy, trước tiên là NT Huỳnh Hữu Hiền cho đến 1958, sau đó, NT Hà Xuân Vịnh một thời gian ngắn, sau đó là anh Lưu Văn Đức từ 1958 đến 1960.  Sau năm 1960 thì người viết bài này thay thế anh Lưu Văn Đức chỉ huy phi đoàn đổi tên thành Phi Đoàn 514 cho đến cuối năm 1963 là thuyền chuyển về Trung Tâm Hành Quân Không Quân trực thuộc BTLKQ.  Khi thay Đại Úy Đức, chúng tôi chỉ mang cấp bậc Trung Úy, được thăng Đại Úy giả định, sau đó lên dần Đại Úy Nhiệm Chức, rồi Đại Úy Tạm Thời, rồi Đại Úy Thực Thụ, và thăng Thiếu Tá sau khi đảo chính ngày 1-1-1963.  Thiếu Tá Võ Xuân Lành từ Trung Tâm Huấn Luyện về thay chúng tôi kể từ 1-1-1964.  Trong ba năm ngắn ngủi phục vụ tại Phi Đoàn 514, Phi Đoàn có cơ hội hành quân khắp nơi, có thể nói là một mình một chợ, có khi biệt phái một lượt hai nơi như vừa ở Pleiku, vừa ở Đà Nẵng, hoặc Đà Nẵng và Sóc Trăng.  Anh em chuyên viên không còn tiền để ăn mà cũng không có thêm phụ cấp di chuyển hành quân tương xứng cho những người “một cảnh hai quê”.  Họ bám víu vào các sĩ quan để vay một ít tiền ăn “cơm tay cầm” mà chỉ có bánh mì và nước tương mà thôi.  Đến lúc sau cùng thì sĩ quan hoa tiêu hay chuyên viên cơ khí gì cũng rách túi, nhưng họ vẫn hành quân cực nhọc và thương lẫn nhau, chia cơm sẻ áo.  Những món nợ đó không khi nào được trả, vì phi đoàn cũng chẳng có một quỹ nào gọi là “quỹ đen” cả.  Sau này, vào năm 1962 thì Phi Đoàn 516 ra đời tại Nha Trang dưới sự chỉ huy đầu tiên là Đại Úy Phạm Long Sửu.  Phi Đoàn 516 gánh vác số phi vụ hành quân tại hai quân khu 1 và 2 từ Phan Thiết trở ra, nên Phi Đoàn 514 cũng nhẹ nhõm phần nào.  Tuy vậy, trong hai vùng chiến thuật 3 và 4 thì mức độ hành quân gia tăng nhiều, nhất là nhu cầu giải vây đồn bót ban đêm.  Do đó Phi Đoàn 514 đã phải bay từ sớm đến tối và còn trực đêm hai phi tuần nhẹ.  Khả năng bay đêm của Phi Đoàn 514 có thể nói vượt trội các đơn vị, kể cả Mỹ, vì Mỹ không thể hành quân khi không có Điều Không Tiền Tuyến (FAC=Forward Air Control). Một phi đoàn T-28 khác được thành lập tại Tân Sơn Nhứt do Đại Úy Hà Xuân Vịnh chỉ huy, dường như đã đặt tên Phi Đoàn 716 vì đơn vị này có khả năng không ảnh.  Phi đoàn này đã tham gia tích cực trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963.  Đến lúc tôi rời Phi Đoàn 514 thì hoa tiêu của PĐ 514 đều có khả năng tác chiến cao, và ba năm liên tiếp đều nhận Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu, do đó cả đơn vị đã mang biểu chương màu ADBT(vàng).  Đầu năm 1964 thì anh Phạm Phú Quốc ra khỏi nhà giam, về lại Biên Hòa chỉ huy Phi Đoàn 518.  Phạm Phú Quốc là Trưởng Phòng Hành Quân của PĐ 514 đã dẫn anh Nguyễn Văn Cử từ Nha Trang về chưa đầy một tháng đi thả bom Dinh Độc Lập trọng tháng 2 năm 1962.  Có thể vì sự kiện chính trị này mà vị Tư Lênh Không Quân của chúng ta là Đại Tá Nguyễn Xuân Vinh đã từ chức cùng lúc với Bộ Trưởng Quốc Phòng là ông Trần Trung Dung.  Sự kiện xảy ra vào tháng 2-1962, trong khi TLKQ Nguyễn Xuân Vinh đang công du tại Nhật Bản, và từ đó Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền thay thế TLKQ cho đến 1-11-1963.  Đại Tá Hiền giải ngũ sau đó và được bay trên máy bay hàng không dân sự.  (Trong quân đội Pháp, không được có hành vi chính trị, trong khi đó, Mỹ chủ trương nuôi dưỡng các quân đội các nước nhược tiểu để dùng quân nhân làm áp lực chính trị đối với chính phủ của họ).

 

Song song, các phi đoàn trực thăng đầu tiên cũng được thành lập như Phi Đoàn 211 và Phi Đoàn 213, sử dụng máy bay H-34, đặt tại TSN.

 

Một số L-19A cũng được bổ sung cho Phi Đoàn 1 và 2 Quan Sát đổi tên là Phi Đoàn 110  ở Đà Nẵng và Phi Đoàn 112 ở TSN.  Sau cùng trong giai đoạn này còn thành lập thêm Phi Đoàn 114 (L-19A)tại Nha Trang và Phi Đoàn 116(U-17A) tại Cần Thơ.

 

Lực lượng vận tải chưa có gì thay đổi, nhưng có thêm nhiệm vụ soi sáng ban đêm cho hai vùng chiến thuật 3 và 4.

 

Nói về các hoạt động hành chánh trong thời gian này, phải kể nổi bật nhất là thành lập hệ thống văn kiện lập quy(VKLQ), là quy củ trong các văn thư quân đội mà chỉ có trong KQVN mà thôi.  Như các kế hoạch nhân viên cho ra cách sắp xếp các đơn vị cũng có quy củ hơn.

 

Các CCTLKQ đều được đánh số theo thời gian thành lập, như CC1TLKQ ở Nha Trang là đơn vị đầu tiên của KQVN với TTHLKQ.  CC2TLKQ tại Biên Hòa, CC3TLKQ tại TSN, CC4TLKQ tại Đà Nẵng.

 

Các đơn vị chiến đấu có số đầu là loại nhiệm vụ của đơn vị, như số 1 cho ngành quan sát, số 2 cho ngành trực thăng, số 3 cho ngành liên lạc, số 4 cho ngành vận tải, số 5 cho ngành khu trục.  Và trong giai đoạn kế tiếp, ta thấy có số 6 cho ngành oanh tạc, số 7 cho ngành không thám.

 

Thường, các đơn vị có số lẻ ở đầu thì hai số sau là số chẵn từ 10 trở lên, trái lại, nếu số đầu là số chẵn thì hai số sau là số lẻ từ 11 trở lên.  Do đó ta thấy:

 

Quan Sát có PĐ 110, PĐ 112, PĐ 114, PĐ 116 vv...

Trực Thăng có PĐ 211, PĐ 213, PĐ 217 (không hiểu lúc thành lập PĐ 217, ông chỉ huy trưởng có xích mích gì với Nhân Viên của BTLKQ mà họ nhảy số 215 là 8 nút thành 217 là số bù).

Liên Lạc có PĐ 312

Vận Tải có PĐ 413 và PĐ 415

Khu Trục có các PĐ 514 , PĐ 516, PĐ 518

Không Thám có PĐ 716

 

Nói là nói như vậy thôi chứ coi bộ sự đánh số cũng tùy hứng của BTLKQ/NV chứ không theo một quy củ đã định, cứ nhảy số lung tung.  Người viết bài này có tham khảo với một Trung Tá KQ làm ở Phòng Kế Hoạch Nhân Viên từ đầu và sau đó làm tại Phòng Tổâ Chưcù & Nhân Lực thuộc Văn Phòng Tham Mưu Phó Hành Quân của BTLKQ, nhưng ông ta cũng không nhớ được lý do tại sao lại nhảy số như trên.

 

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAI ĐOẠN:

 

Thứ nhất, có thể đề cập đến cơ hội thăng quan tiến chức của các đàn anh kỳ cựu của KQVN trong thời kỳ mới thành lập.  Ai mà được thượng cấp quan tâm tới là nhanh như chớp, có chức vụ và có cấp bậc.  Điển hình nhất là các ông từ trước đã có cấp bậc sĩ quan, tốt nghiệp từ các trường Bộ Binh Thủ Đức hay Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, sau được chuyển sang KQ.  Trường lớp lúc đó chỉ kéo dài 6 tháng tại Thủ Đức và một năm tại Trường Võ Bị Đà Lạt.  Mang cấp Thiếu Úy hai  năm thì thăng Trung Úy đương nhiên.  Khi có chức vụ tùy cao thấp sẽ tăng thêm từ một đến hai cấp.  Nhưng đừng nghe thế mà tưởng bở.  Lên nhanh mà chầu rìa cũng nhanh.  Như vị TLKQ đầu tiên mà trong nhiều bài đã nói rõ, từ Đại Úy lên Trung Tá, và chẳng bao lâu sau, thăng Đại Tá.  Không cần biết thành quả hoạt động như thế nào, phải được lòng thượng cấp, và rất khó mà biết được thượng cấp muốn gì.  Từ đâu thượng cấp đánh giá về mình.  Thật là vì lúc đó chúng tôi chỉ là tép riu nên không rõ lắm, nhưng thấy cũng kỳ. Chỉ tội là mình phải chào như điên, vì anh nào cũng chỉ lớn hơn mình vài ba tuổi mà cấp bậc của họ xa mình quá cỡ thợ mộc.  Nhưng biết làm sao bây giờ, họ phải mang lon cho xứng với chức vụ, để còn giao dịch với bên ngoài.  Chắc để cho ta đảm nhận chức tước như họ(điều đó chẳng khi nào có), thì ta cũng thấy nên có cấp tương xứng.  Nói tới đây, tôi mới nhớ một dịp ngồi trên máy bay Pan Am từ Mỹ về Saigon, cô chiêu đãi viên hàng không hỏi tôi, tại sao ba ông lại quá trẻ mà mang cấp hiệu giống y như ba ông ngồi ở hàng ghế sau, có thể nói như cha con vậy, thế là thế nào?  Nhìn ra phía sau thì là ba Đại Tá của Không Quân Tưởng Giới Thạch, họ mang đúng ba mai vàng y chang.  Thế mới biết là khi ta làm cấp hiệu quân đội, cần nên nghiên cứu xem trong vùng chúng ta, và có thể trên khắp thế giới, có chỗ nào trùng dụng với chúng ta không?

 

Trên đây nói về cơ hội đã đến với một số ít người, ngay lúc đầu đã có cơ may thăng cấp nhanh, và chính sau này họ vẫn khó bị vượt qua được.  Nhưng có một số đông khác thì do một sự chuyển đổi không ai ngờ.  Đó là số hạ sĩ quan hoa tiêu tốt nghiệp từ các trường Pháp như Marrakech và Aulnat.  Có người về còn chưa có cấp bậc trung sĩ như khóa sinh Pháp, mà chỉ mang Hạ Sĩ Nhất hay Hạ sĩ mà thôi, vì số điểm tốt nghiệp của họ quá kém.  Khi Mỹ bao thầu cho VNCH về viện trợ quân sự thì theo quy chế của Mỹ, hoa tiêu phải là sĩ quan, thành thử họ trả lương sĩ quan.  Vậy thì mọi hoa tiêu trước dù là hàng binh đi nữa cũng thăng một mạch lên Chuẩn Úy mà không cần phải qua trường lớp nào để điều chỉnh cả.  Số này trên dưới 50 người từ các trường Marrakech và Aulnat. Một số người khác như NT Phan Văn Mạnh (tự Le Fort), và nhiều người nữa mà tôi không nhớ tên lại giữ cấp Thượng Sĩ rất lâu sau đó, vì tốt nghiệp trong nước, tại TTHLKQ/Nha Trang. Trong khi đó, các hoa tiêu tốt nghiệp từ Mỹ về cũng đều mang Chuẩn Úy nếu họ đã nhập ngũ thẳng vào KQ; nếu đã qua các trường Võ Bị Đà Lạt hay Bộ Binh Thủ Đức thì họ có cấp bậc tối thiểu Trung Úy.  Trường hợp đi Mỹ để học lái nhưng bị loại thì họ được chuyển sang một ngành phụ dưới đất, như weapons controller, maintenance officer, supply officer, training officer,...Nên biết là phần đông sĩ quan Mỹ đều có Bachelor Degree, nên khi họ hỏng bay thì làm việc dưới đất, kiến thức căn bản và văn hóa, ta khó sánh kịp.  Có nhiều sĩ quan phi hành lại giữ chức vụ bảo trì, tiếp liệu, hay quân báo, an ninh.  Những ngành họ đang hành nghề là chỉ số phụ (second skill), chứ không có ý gì khác.  Do đó, khó mà so sánh với Mỹ, là một nước giàu tiềm năng, kể cả học thức.  Các sĩ quan lên cấp tá, họ đều qua những trường gọi là post graduate, để lấy bằng Command & Staff, hay War College, và luận văn kết khóa của họ có giá trị tương đương với Master Degree.  Còn chúng ta thì cũng có Master nhưng là Master Jump, đây là bằng dành riêng cho các chiến sĩ mũ đỏ của chúng ta.

 

Nói đến thăng cấp nhanh thì cũng nói đến có người bị quên lãng như NT Nguyễn Đức Khánh, phải giữ cấp bậc Chuẩn Úy 6 năm sau khi tốt nghiệp Trường Võ Bị Không Quân Pháp vào tháng 10 năm 1957.  Mãi cho đến sau khi đảo chính ông Diệm, Khánh mới lên được Thiếu Úy.

 

Về huy chương trong thời buổi này thật hiếm hoi.  Chỉ có bốn loại huy chương:

-Bảo Quốc Huân Chương,(mà KQVN chỉ hưởng lần đầu tiên vào 26 tháng 10 năm 1963)

-Quân Công Bội Tinh,

-Anh Dũng Bội Tinh,

-Chiến Thương Bội Tinh.

Do đó, các nhân viên không phi hành không có gì để tưởng thưởng họ.

 

Có một điều ta không nên phủ nhận là tiền lương trong thời kỳ này rất tốt vì đồng bạc có giá.  Tôi nhớ khi chưa lãnh được tiền bay, gọi là Không Quân Vụ số 1, tôi chỉ lãnh 4,800 đồng bạc Việt Nam với cấp Trung Úy.  Nhưng chỉ tiêu xài có 1,800 đồng một cách phủ phê, còn để dành được 3,000 đồng, lúc đó là giá của một lạng vàng.  Khi lãnh được tiền bay trễ mất một năm rưỡi, nghĩa là 18 tháng, tôi lãnh một số tiền khổng lồ lúc còn mang trung úy, đủ để mua một chiếc Lambretta 150cc, một máy may cho bà xã, và còn cho cô em 10,000 đồng để làm lễ cưới.  Cái gì cũng bết, chỉ có lương, đối với tôi, là rất tốt trong suốt đời binh nghiệp.  Ấy vậy mà nếu cứ đi xa nhà biệt phái hoài hoài thì có lắm kẻ thiếu tiền xài, vì ra ngoài thì KQ vốn lả lướt từ khuya, chi cho các em rất ngọt.

 

Dù sao, các bậc tiền bối của chúng ta chắc đã phải vất vả khi nắm chức vụ chỉ huy.  Đúng là đứng mũi chịu sào, như Mệ có trình bày nhiều phen, phải đấu với các ông bên Lục Quân, cứ lấy thịt đè người.  Phương tiện lại eo hẹp.  Tôi nhớ có lần ra Đà Nẵng biệt phái hành quân, ngủ ngoài sân mái hiên của câu lạc bộ sĩ quan.  Xe thì cấp cho đơn vị chỉ có thứ chuyên chở nhẹ (Dodge 4) có tài xế của quân xa lái.  Ai lái bậy bị củ.  Còn kỳ xuống Sóc Trăng biệt phái hành quân yểm trợ cho chiến dịch Bình Tây vùng Năm Căn phía Nam U Minh, phải ở Bungalo, sĩ quan được nằm giường, một giường ngủ hai người, làm anh đại úy cố vấn của tôi phải cùng tôi ôm ấp cả mấy đêm liền.  Còn bên ngoài thì anh em hạ sĩ quan binh sĩ nằm ở hành lang, chịu đựng mưa gió, bảo vô phòng cùng ngủ, các anh không nghe.  Sáng lại, họ rên rằng, tối nào các thị mẹt cũng đến gạ gẫm, mà không thằng này thì thằng khác nhẹ dạ nghe theo, cả đêm không ngủ được.  Anh “Long Chà”ø thì đạo hồi, mà đại táo của bộ chỉ huy chiến dịch toàn là thịt heo, nên đi bay anh mang theo một nải chuối.  Chính anh Long Chà , tên thật là Ali, đã chạy ra khỏi vòng rào phi trường Sóc Trăng và cán chết một chị đang câu ngoài ruộng gần đó.  Phi đạo chỉ có 1,000m, nhưng ở gần cuối phi đạo có một ổ gà, do đó chỉ hữu dụng 750m.  Vì cố đáp thật ngắn nên anh chạm đất ờ ngoài phi đạo, chỗ đó có đất trơn nên anh không giữ được trục đáp.  Sau này, anh Long Chà chết trên vùng chiến khu D trong một phi vụ hành quân.

   Một phi trường khác mà chúng tôi phải hành quân là Pleiku.  Chỉ dài 750m, lót vỉ sắt trên đất nện màu đỏ.  Do phi đạo có dốc, nên đáp thì lên dốc, cất cánh thì xuống dốc.  Có lần dưới đất tôi nhìn xem, khi cất cánh, chạy qua một chỗ trũng sâu, sức nặng máy bay đè vỉ sắt xuống làm lòi lên cỡ hai tấc một cọc cày vĩ sắt, làm cho máy bay mất đà và mất trục cất cánh, chân đáp vướng vào hàng rào kẽm gai có trụ bê tông, anh mang cái của nợ đó lên cao cho đến khi vào chân đáp thì trụ bê tông rơi xuống đất.  Thật là không có an phi chút nào.  Máy bay biệt phái một tuần lễ ở phi trường Pleiku này phải mang về Biên Hòa để tấm rửa, vì đất đỏ bám vào thân máy bay trộn với dầu chảy từ máy ra, là máy bay càng nặng thêm và dễ bị rỉ sét.  Chính cái ông Hà Xuân Vịnh đàn anh của chúng tôi thám sát phi trường này, khi anh về làm việc tại BTLKQ.  Đúng như anh nói, vùng cao nguyên chỉ có phi trường này là miễn cưỡng dùng được cho khu trục.  May là bay A-1H chứ nếu còn bay F-8F thì 100% toi mạng.

 

Những cái vớ vẩn thời đó, có ai mà hiểu được.  Có ngày chúng tôi biệt phái ra Nha Trang để tập tác xạ không/không.  Ra Nha Trang rồi mới biết chẳng có anh nào rành cái việc này cả.  Cả đám vừa làm vừa học.  May cho chúng tôi, vì lúc đó mình là nhóc con, chắc sẽ bị chỉ định làm mồi cho người ta bắn, Tây gọi là plastron, nghĩa là kéo bia ra ngoài khơi trên Bearcat để các đàn anh bắn vào bia.  Nếu lỡ mà các anh mê tít, vào ở sáu giờ của tôi mà thổi thì chết chắc.  Thế mà may, không anh nào bắn trúng tôi cả, vì đàn anh chưa ai cho cái bia lên trời được thì đời nào đến tôi.  Nhưng cũng hú vía vì cái anh đài kiểm soát không lưu Nha Trang.  Chưa biết điều hành khu trục cơ mà chỉ quen với máy bay bà già của Mệ, nên anh ta thấy chiếc sau chạy tới nhanh mà chiếc trước chưa rời đường bay kịp, anh la hoảng “roulez, roulez, roulez” mà không chỉ cho tôi rẻ chỗ nào, nên tôi phải ra cát chúi mũi làm trò hề “ngựa go”å cho thiên hạ.

 

Nói chung là lúc không biết nhiều về an phi là gì cả.  Tây gọi là “sécurité de vol” và Mỹ thì các anh biết rồi “flying safety”.  Chính cái ngành này làm hại nhiều anh khi đi tù.  VC chúng nó nghe chữ An cứ tưởng là an ninh mà Tây gọi là “Sureté Militaire”.  Thế mới chết.  An phi gì đâu mà không có một hướng dẫn nào.  Các biện pháp cấp cứu cũng sơ sài qua loa.  Tôi nghe Lưu Văn Đức nhảy dù ở Dầu Tiếng trên Bearcat, tôi không ngại, vì anh đã học nhảy dù.  Khi gặp anh ta, anh nói tao “trim noze down maxi, rồi khi đang gở nịch ra thì tay trái không thuận nên chuyển tay lái vào tay trái để dùng tay phải mở dây nịch, đúng lúc đang chuyển tay và giật được khóa dây nịt thì máy bay chúi mũi nhanh đến độ bắn tao ra ngoài”.

   Còn các anh cá nhau ăn phở để đáp xuống bụng ở các phi trường như Trảng Bom, hay đáp xuống sông Nhà Bè như anh Nguyễn Thế Long để tử nạn.  Đây cũng là những chuyện mà sau này không thể xảy ra.

  Nhưng có chuyện lại tái diễn.  Như anh Xuân rớt bên khu vực Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Biên Hòa, anh còn sống và phi cơ chưa phát hỏa.  Nhưng xe cứu hỏa chạy tới hàng rào bên nay phi trường, rồi đứng đó không qua bên kia rào được, vì có hàng rào và đường mương ngăn chận lại.  Chỉ một lúc sau, số lượng xăng chảy ra nhiều đã bốc hơi khi máy còn nóng nên phát hỏa.  Anh Xuân chết cháy trong máy bay, vì nhân viên cứu hỏa còn thấy anh ngoắc nhiều lần.  Vì vậy, khi papa Sửu lật úp trên phi đạo 33 tại Biên Hòa, anh hô to “Đừng cha nội nào hút thuốc nghe không!”  Tôi hỏi nhanh,”anh kiểm tắt hết contact chưa?”  Anh la vang, “rồi, các cha giúp dỡ máy bay lên cho tôi ra chứ”.  “Cần trục tới rồi, anh đừng lo”.  Anh Sửu được cứu kịp thời.  Nhưng sau này, một vụ tương tự lại xảy ra cũng tại Biên Hòa làm chết anh Nguyễn Văn Long và anh Nguyễn Thế Anh.  Chỉ vì máy bay hỏng thắng, rời phi đạo, rồi lật úp trên một vũng nước.  Khi cần trục đến nơi thì bị lún khi nâng máy bay lên, do đó hai người đã chết ngộp dưới nước.  Thật không có thầy bói nào biết trước như vậy.

 

Những khó khăn lúc ban đầu thật vô số kể.  Chúng ta phải phục những vị đã đứng mũi chịu sào cho KQVN chúng ta mạnh tiến sau này.  Đừng vội chỉ trích những người đi trước.  Bạn cứ hồi tưởng lại hồi bạn còn ở cấp thấp hơn sau này, lúc chưa kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề và kinh nghiệm chỉ huy, bạn thấy có phải tại sao lúc trước mình dại thế không.  Vì vậy cho nên, chưa qua cầu thì chưa biết đá biết vàng.  Phê phán cấp trên cũng giống như vậy.  Nếu ta đã làm TLKQ một lần thì mới có ý kiến về vị TLKQ của mình.  Nhất là nói xấu cấp trên với những người kém lon lá hơn mình càng mang tội lớn, là chính ta khuyến khích đàn em nói xấu ta vậy.  Dù KQVN không còn nữa nhưng con người của KQVN vẫn còn đây, và chúng ta luôn hãnh diện về những gì những bậc lão thành đã vun đấp cơ sở cho chúng ta bay nhảy sau đó.  Mộng bay như vẫn còn đâu đây.

 

 

Gman

 

(còn tiếp)