Make your own free website on Tripod.com

KQVN 1969-1975

Gman

 

Lời Mở Đầu.   Trong thời gian những người bỏ công viết Quân Sử Không Quân phải hoàn tất công việc khó khăn của họ, chúng tôi mong rằng sẽ đóng góp kịp thời những dữ liệu cần thiết để viết về giai đoạn cuối cùng này.  Các chi tiết về số lượng đơn vị, danh tánh và nơi đồn trú đều có thể tìm thấy trong các web site của các Hội Ái Hữu Không Quân các nơi, và có thể bổ sung bằng các web site của người Mỹ có nhiều chi tiết chính xác về tiếp vận cho KQVN(VNAF), để biết lúc nào giao cho VNCH những loại và số lượng chiến cụ gì.  Đây cũng là quan điểm cá nhân về chính trị cũng như về quân sự, không nhằm phê phán chế độ nào để hướng dẫn dư luận nhằm một mục tiêu gì khác.  Quan điểm chủ quan, lẽ tất nhiên, không để làm vừa lòng tất cả mọi người, mà chỉ nêu lên để củng cố lập luận của mình mà thôi.  Xin bạn đọc thông cảm. Gman.

 

 

Bối Cảnh:

 

Người Mỹ chủ trương Việt Hóa Chiến Tranh ngay từ lúc vận động bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ trong năm 1968.  Mục đích rõ rệt của Mỹ là rút quân sĩ Mỹ khỏi Việt Nam.  Không cần biết dân chúng Mỹ hiểu sao về cuộc chiến tại Việt Nam, kết quả thực tiễn là quá nhiều hệ quả bất lợi cho Mỹ về kinh tế, xã hội, và tâm lý quần chúng tổn thương trầm trọng.  Dùng từ Việt Hóa Chiến Tranh lại mang đến cho chúng ta một sự xúc phạm chua sót.  Vì bấy lâu chúng ta đã hy sinh gắp mười lần lính Mỹ, chúng ta cũng đã hy sinh một chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa để cho phép Mỹ tham chiến tại Việt Nam, và chính cuộc tham chiến này đã Mỹ Hóa Chiến Tranh và làm cho VNCH mất đi chính nghĩa chóng cộng.  Chủ thuyết Nixon chỉ là một lời tuyên bố “giao banh lại cho VNCH” sau khi đã quyết định “xù”.  Trên trang nhà này cũng đã có bài viết về “Những Bất Lợi Cho VNCH Trong Cuộc Chiến Tại Việt Nam”, cũng đã đề cập chi tiết về Việt Hóa Chiến Tranh, nên không cần lập lại ở đây.  Điều mà chúng ta cần nói rõ là những phần vụ mà Mỹ đã phụ trách khi tham chiến tại Việt Nam sắp sửa được bàn giao cho KQVN chúng ta, đặt chúng ta trong những điều kiện vô cùng phức tạp để KQVN có thể trọn vẹn trách nhiệm của mình.

 

Khi Mỹ tham chiến, không những chỉ có Không Quân Hoa Kỳ mà còn có Hải Quân Hoa Kỳ, Lục Quân Không Binh và Thủy Quân Lục Chiến Không Binh nữa.  Ngoài các căn cứ  quân sự như Đà Nẵng, Phù Cát, Nha Trang, Phan Rang, Biên Hòa và Tân Sơn Nhất thường trực có máy bay thuộc Không Quân Hoa Kỳ trú đống, còn có lực lượng hùng hậu của máy bay trực thăng, quan sát, vận tải nhẹ của Lục Quân Không Binh và Thủy Quân Lục Chiến Mỹ khắp bốn vùng chiến thuật.  Điều mà KQVN chưa khi nào có được là hệ thống phòng không với hỏa tiễn Hawk do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ điều hành trong Vùng 1 Chiến Thuật.  Hệ thống radar của Mỹ không chỉ có 6 đài cố định ở Đông Hà, Đà Nẵng, Pleiku, Ban Mê Thuột, Tân Sơn Nhứt và Bình Thủy, mà còn có cả hệ thống phòng không của Hải Quân Mỹ ngoài khơi Thái Bình Dương do Hạm Đội 7 phụ trách.  Những thứ đó, chúng ta không thay thế Mỹ được.

 

Về phía địch, quân đội chính quy Bắc Việt di chuyển vào Nam ồ ạt và công khai.  Khi Hiệp Định Paris được ký kết, Mỹ không còn là hiểm họa cho Bắc Việt trước kia từng bị oanh kích thường xuyên.  Do đó, tất cả phương tiện phòng không của Bắc Việt và các pháo lớn đã di chuyển vào Nam.  Điểm này quan trọng đối với hoạt động KQVN.  Chúng ta không giữ được quyền bá chủ không phận nữa, không phải vì có phi cơ địch khuấy rối chúng ta, vì Bắc Việt không có lực lượng Không Quân chiến thuật để tấn công các mục tiêu dưới đất, và họ cũng chẳng cần làm như vậy để giữ được cái thế mà họ thường rêu rao, “Miền Nam tự giải phóng mình, miền Bắc chỉ hỗ trợ chứ không phải xâm lược miền Nam”.  Nhưng khi súng phòng không cỡ lớn (37ly) và hỏa tiễn địa/không SA-7 vào miền Nam, thì giống như họ mang cọc đi cấm ranh mà họ chiếm đóng.  KQVN mất đi sự ngang tàng hùng dũng trước kia.  Nhưng địch xua quân vào Nam cũng đã trả một giá rất đắt.  Từ năm 1972, họ đã phải đưa vào Nam những người lính chỉ lên 16 tuổi, vì nguồn nhân lực quân sự (military pool) trong xã hội miền Bắc đã cạn.  Nếu Hoa Kỳ đã cố gắng kiên trì giúp đỡ miền Nam thêm vài năm nữa, thì biết đâu kết quả sẽ ngược lại.

 

Sáu tháng sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, toàn thể quân đội Mỹ rút khỏi chiến trường Việt Nam, nhưng để lại một bộ phận tùy viên quân sự hùng hậu, được biết dưới tên Defense Attache Office (DAO) nằm trong cơ sở MAAGV cũ.  Bộ phận này chú trọng đến việc tiếp vận cho QLVNCH chứ không đá động gì đến chiến cuộc.  Chính DAO đã giao cho VNCH những chiến cụ cần thiết theo một bản cấp số quân dụng thiết lập trước khi ký Hiệp Định Paris năm 1972.  Và KQVN đã phát triển theo chương trình này từ quân số trên dưới 30,000 người lên đến con số 64,500 người, trong khi toàn thể QLVNCH tiến lên từ quân số  650,000 người (trong số đó có đến 150,000 người bất khiển dụng vì đang trong tình trạng bêïnh hoạn không thể tác chiến được=mẫu số 8) lên đến con số một triệu người.

 

 

Tổ Chức Các Đại Đơn Vị Không Quân:

 

Sư Đoàn Không Quân.

 

Sư Đoàn Không Quân chỉ là một tổ chức Không Đoàn trước kia mở rộng.  Mỗi sư đoàn KQ có một hay hai không đoàn tác chiến trực thuộc, không đoàn bảo trì và tiếp liệu, và không đoàn yểm cứ.

Một bộ tham mưu khá lớn cho mỗi sư đoàn Không Quân, không thua gì bộ tư lệnh KQ trước kia.

 

Có thể liệt kê như sau:

 

Sư Đoàn 1 Không Quân, tại Đà Nẵng.

Sư Đoàn 6 Không Quân với hai căn cứ Pleiku và Phù Cát.

Sư Đoàn 2 Không Quân tại Nha Trang và Phan Rang.

Sư Đoàn 3 Không Quân tại Biên Hòa.

Sư Đoàn 5 Không Quân tại Tân Sơn Nhứt.

Sư Đoàn 4 Không Quân tại Bình Thủy.

 

Các chi tiết về đơn vị trực thuộc các sư đoàn Không Quân rất nhiều mà bạn đọc có thể tìm đọc trên các web site các HAH/KQ khắp nơi và trong web site VNAF do một quân nhân Hoa Kỳ phụ trách.

 

Các Đơn Vị Trung Ương:

 

Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân, tại TSN thay thế Trung Tâm Hành Quân Không Quân trước kia.

 

Bộ Chỉ Huy Huấn Luyện Không Quân tại Nha Trang, thay thế TTHLKQ.

 

Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận, tại Biên Hòa, thay thế Không Đoàn Kỹ Thuật & Tiếp Vận trước kia.

 

Bộ Chỉ Huy Kiểm Báo, tại TSN, trực tiếp chỉ huy các đài và Trung Tâm Kiểm Báo, ngoài chỉ huy hành quân do Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân điều khiển.

 

Trung Tâm Y Khoa Không Quân, tại TSN, ngoài nhiệm vụ giám định y khoa còn có khả năng như một bệnh viện Không Quân.

 

Trung Tâm Quản Trị Không Quân, tại TSN.

 

 

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THỜI KỲ 1969-1975:

 

Cấp Số KQVN về quân số lên đến quân số lý thuyết là 64,500 người, và số lượng phi cơ đủ loại lên đến trên dưới 3,000 chiếc.  Nếu có người đem so sánh với các Không Quân khác trên thế giới, đúng là ta đã đứng vào hàng thứ ba hay thứ tư gì đó.  Nhưng ở các nước hàng đầu kia thì chính họ đã bỏ tiền công quỹ ra để thành lập một Không Quân lớn mạnh, còn riêng VNCH chúng ta thì lệ thuộc hẳn vào Hoa Kỳ mới có được.  Ngân sách quốc gia Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1972 chỉ có thể trả lương cho 40% quân số vừa kể, nói chi đến tổn phí điều hành các đơn vị Không Quân. 

 

Bản Cấp Số Nhân Viên Rất Rộng Rãi Về Cấp Bậc.  Tư Lệnh Sư Đoàn Không Quân có cấp Thiếu Tướng.  Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Không Quân có cấp Chuẩn Tướng. Các Không Đoàn Trưởng Chiến Thuật có cấp Chuẩn Tướng.  Các đại đơn vị như Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân, Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân, Bộ Chỉ Huy Huấn Luyện Không Quân đều có cấp tướng chỉ huy. Cũng nhờ cấp bậc trên bản cấp số được nâng cao nên có nhiều cơ hội để những ai giữ chức vụ cao được thăng cấp nhanh chóng sau này, nhất là ở các đơn vị tác chiến.

 

 

Có Rất Nhiều Nhân Viên Các Cấp Trong Các Ban Tham Mưu của Sư Đoàn Không Quân hay các Đại Đơn Vị Không Quân.  Đây là một vấn đề lớn trong công cuộc điều hành các đơn vị trong giai đoạn chuyển tiếp, vì lẽ phải lấy người đang chiến đấu thật sự có khả năng chỉ huy và tham mưu lên nhận những chức vụ chỉ huy và tham mưu, nên các đơn vị tác chiến thiếu người để duy trì hoạt động hành quân hữu hiệu như trước đó.  Số lớn sĩ quan tham chiến thường nhật chỉ còn từ cấp Đại Úy trở xuống, mà chính họ cũng vừa được thăng cấp nhanh chóng, chưa có nhiều kinh nghiệm hành quân.  Nói thế không phải những người  ở chức vụ chỉ huy và tham mưu cao trong sư đoàn không còn tham gia bay bổng nữa, nhưng thời gian chỉ huy và tham mưu của họ cũng chiếm nhiều, nên công tác bay bổng chỉ còn là khi tối cần thiết mà thôi.  Do đó, cái đôi giày mà Mỹ tặng cho KQVN quá to để có thể đi đứng dễ dàng trong thời gian đầu, và đó cũng là nguyên nhân khách quan làm cho tiềm lực chiến đấu giảm nhiều trong khi toàn thể lực lượng lại to lớn hơn trước đây.

 

Bộ Chỉ Huy Huấn Luyện Không Quân Được Mở Rộng Về Đơn Vị Huấn Luyện Và Giáo Dục.  Có thêm nhiều trường huấn luyện phi hành như Trường Phi Hành T-41 tại Nha Trang, Trường Phi Hành T-37 tại Phan Rang, các Trường Kỷ Thuật tại Biên Hòa và tại Tân Sơn Nhứt tăng cường cho Trường Kỷ Thuật tại Nha Trang.  Đặc biệt có Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp Không Quân lúc đầu đặt tại Nha Trang, sau dời về Tân Sơn Nhất để tăng thêm phẩm chất sĩ quan trong nhiệm vụ càng lúc càng to lớn của họ.

 

Khả Năng Chiến Đấu Của Các Ngành  Cũng Gia Tăng.

 

Ngành vận tải có thêm nhiều loại phi cơ như C-119, C-123, C-130 làm tăng sức không vận cho cả QLVNCH.  Còn thêm các phi cơ AC-47, AC-119 tăng thêm hỏa lực yểm trợ hành quân đêm, vừa soi sáng vừa yểm trợ hỏa lực, và EC-47 có khả năng định chuẩn các vô tuyến đăng, U-6 ngoài khả năng rải truyền đơn trước kia, còn thêm khả năng dò tìm các đài phát sống của địch trên chiến trường.

 

Ngành Khu Trục có thêm một số lớn F-5A/B còn có F-5E có trang bị hỏa tiễn Không/Không để nghênh cản nếu cần, dù khả năng thật của F-5E không thể so với MIG-21 của Bắc Việt được.  Tuy vậy, số lượng F-5A chỉ hoạt động giới hạn vì rất thiếu bộ phận rời.

 

Ngành Trực Thăng chẳng những tiếp nhận thêm UH-1H để hành quân đổ bộ mà còn có CH-47 có khả năng chuyển quân qui mô và nâng được các súng pháo binh to lớn.  Vì nhu cầu hành quân đặc biệt nên một số H-34 còn giữ lại phục vụ các đơn vị của Lực Lượng Đặc Biệt.  Riêng về ngành trực thăng có vấn đề đào tạo rất lớn ở Hoa Kỳ, vì các trường dạy lái ở Hoa Kỳ không làm sao kham nổi số lượng khóa sinh nhiều như vậy.  Có lúc Hoa Kỳ chỉ cho KQVN có cấp số hoa tiêu theo tỷ lệ là 1/1, nghĩa là chỉ có một hoa tiêu cho một phi cơ của đơn vị.  Thật là vô lý, vì muốn bay một chiếc trực thăng phải có tối thiểu hai hoa tiêu, một chính và một phụ.  Rồi họ còn phải nghỉ ngơi, chứ không lẽ ngày qua ngày, họ phải hành quân theo bộ binh ngoài đơn vị gốc hay sao.  Thường một ghế hoa tiêu phải có nhân lực là 1.25, nghĩa là tỷ lệ mỗi phi cơ phải có 2.5 hoa tiêu mới phải.  Tỷ lệ này chỉ tính trong sự thiệt hại bình thường chứ không trong thời gian chiến đấu nhiều như ở Việt Nam.  Đáng lý ra, trong thời chiến, phải có tỷ lệ 3.0 hoa tiêu cho mỗi phi cơ trực thăng.  Những trở ngại vừa nêu, Mỹ Việt đều biết rõ.  Một số lớn SVSQ đang học ở Hoa Kỳ đã phải đưa về nước trước khi họ tốt nghiệp, hay giải ngũ tại chỗ khi VC cưỡng chiếm miền Nam.

 

Ngành quan sát ngoài việc tăng thêm số lượng O-1A còn nhận thêm loại O-2 có hai động cơ hoạt động trong Vùng 2 Chiến Thuật.

 

Khả Năng Của Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật Và Tiếp Vận Cũng Nâng Lên.  Đó là khả năng chế tạo, thêm vào và gia tăng khả năng bảo trì và tiếp liệu cấp cao như đại tu.  Đơn vị này còn có một bộ phận chuyên viên “định chuẩn các máy đo tinh vi” (PMEL) tại Biên Hòa và tại Đà Nẵng, có một không hai trong vùng Đông Nam Á Châu.

 

 

Kết Luận

 

Thật đáng tiếc cho chúng ta đã nhận số viện trợ to lớn này không đúng lúc.  Phải chi trước kia, hồi thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Mỹ đã chịu giúp đỡ quân viện cho chúng ta ngần ấy thì quân Mỹ khỏi cần tham chiến ở Việt Nam để nhận lấy những khó khăn về tâm lý chính trị sau này.