Make your own free website on Tripod.com
ĐIỂM DANH CÁC BẠN GIÀ I

 

Các bạn già đồng trang lứa với tôi rất nhiêu, kể sao cho hết, nào là đồng tuổi, nào là đồng khóa học ngoài đời và trong quân đội, nào là cùng thâm niên công vụ, nào là cùng ngành nghề. Bởi vậy, tôi chỉ chọn một số nhỏ mà thôi. Những bạn già tôi sắp điểm danh sau đây, họ là ai? Là các bạn già của hai khóa Hoa Tiêu và Quan Sát Viên đầu tiên của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa khi còn phôi thai, năm 1952. Tính đến nay gần nửa thế kỷ, trong khoảng thời gian đó ai cũng có ít nhất trên 23 năm công vụ……., đã từng vào sanh ra tử, sống dưới lằn tên mũi đạn, đã từng sống kiếp tù đày, hay đã trải qua những năm tháng đầu gian khổ của kẻ lưu vong. Người nào nay lưng cũng đã còng, tóc đã bạc, mắt đã mờ vì tuổi đời chồng chất ở lớp thất thập cổ lai hy, nên điểm danh để biết ai còn ai mất. Có những người đã ra đi vĩnh viễn, có kẻ đền nợ nước, phơi thây ngoài trận địa hay vùi sâu trong rừng già vì mất tích, có kẻ ngã gục trong lao tù vì bị hành hạ và đói khổ, cũng có kẻ chết vì tuổi già. Những kẻ may mắn còn tại thế đang lưu lạc tứ phương sau biến cố đất nước tháng 4 năm 1975, có người đang an hưởng tuổi già, cũng có kẻ đang còn nặng nợ vì mưu sinh.

x x

x

Đầu thập niên 50, chiến tranh giữa Việt Minh (sau này là Việt Cọng) với danh nghĩa dành độc lập, và Pháp với danh nghĩa bảo vệ nền quân chủ Việt Nam, đang ở cường độ mãnh liệt. Trong lúc đó, các thuộc địa của Pháp, nhứt là Algérie cũng noi gương vùng dậy dành lấy chủ quyền. Nước Pháp không thể một mình đương đầu nỗi với bao nhiêu mặt trận, và nhận thấy phong trào chống đối do cọng sản Nga xúi dục, nên đã kêu gọi những người bản xứ có tinh thần quốc gia cùng tham chiến chống cọng sản. Vào năm 1947-48, Việt Nam dã có bộ binh, lực lượng này hồi đó đang còn nhỏ bé, chỉ mới ở cấp đại đội mà thôi, nên chưa thể gọi là Lục Quân được.. Ngoài Bắc có Bảo Chính Đoàn, oở Trung có Việt Binh Đoàn, và trong Nam có Vệ Binh Đoàn. Mãi tới năm 1952, người Pháp mới nghĩ tới việc thành lập Không Quân Việt Nam. Và đúng như lời của tác giả Đằng Vân, Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, trước kia người Pháp gọi là Centre d’Instruction Aérienne (C.I.A.) là cái nôi của Không Quân.

Tại trung tâm huấn luyện này ở Nha Trang vào năm ấy, người Pháp đã huấn luyện 3 khó Không Quân, hai khóa phi hành và một khóa thợ máy bảo trì phi cơ. Dĩ nhiên chương trình học cũng bằng tiếng Pháp. Ngoài ra, còn có các thành phần trợ lực khác nữa, được tuyển chọn từ Bộ Binh sang. Có thể nói, những người này là tiên phong của Không Quân. Tuy nhiên, ở đây tôi chỉ đề cập tới hai khóa phi hành đầu mà thôi, nhơ lời trình bày ở trên.

Phần I

Khóa Một Hoa Tiêu

Kohan 1 Hoa Tiêu khai giảng từ đầu năm 1952, gồm 15 khóa sinh: 4 thiếu úy tốt nghiệp khóa 1 Đà Lạt (tức là khóa 3 vì đã có hai khóa sĩ quan ở Đập Đá, Huế; sau đó có trường sĩ quan này dời về Đà Lạt) chuyển sang, và 11 dân chính. Vì kiến thức quân sự không đồng đều giữa các khóa sinh nên khi mãn khóa, các hoa tiêu mang ba cấp bậc khác nhau:Thiếu Uùy, Chuần Uùy, và Thượng Sĩ. Danh sách 15 vị nầy nư sau:

Nguyễn Thế Anh

Nguyễn Mạnh Bổng

Bùi Quang Các

Từ Bộ Cam

Võ Dinh

Mai Văn Hạnh

Dương Thiệu Hùng

Nguyễn Kim Khánh

Nguyễn Ngọc Oùanh

Võ Phước

Trần Bá Quy

Phạm Long Sửu

Nguyễn Thanh Tòng

Vũ Văn Ước

Nguyễn Tâm Đăng

Khóa hoa tiêu này được điều hành bởi các huấn luyện viên người Pháp. Giám Đốc trường là Capitaine Fatio, vị sĩ quan hiền lành và rất lịch sự, ai cũng kính mến.

Những người đã ra đi hay đền nợ nước:

Nguyễn Tâm Đăng, tử nạn phi cơ khi đang thụ huấn tại Nha Trang.

Nguyễn Thế Anh, Võ Bị Đà Lạt, tử nạn khi bay AD5 tại căn cứ Không Quân Biên Hòa.

Nguyễn Mạnh Bổng, tử nạn trong chuyến bay Air Việt Nam từ Lào về Việt Nam.

Bùi Quang Các, mất tích trong một phi vụ trực thăng, đi ủy lạo các binh sĩ ở các tiền đồn dọc biên giới

Lào Việt vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1960.

Từ Bộ Cam, Võ Bị Đà Lạt, chết già tại San Jose năm 2000.

Nguyễn Kim Khánh, qua đời tại Mỹ chỉ vài năm sau 1975.

Võ Phước, tử trận trong một phi vụ hành quân.

Những người còn tại thế:

Võ Dinh, Chuẩn Tướng, cựu Tham Mưu Trưởng Không Quân, đời lên hương từ ngày ra trường Võ Bị Đà Lạt cho đến ngày mất nước, là một sĩ quan cấp tá đầu tiên, (dĩ nhiên là sau Phụ Tá Không Quân) của Không Quân, cũng giữ chức vụ Căn Cứ trưởng đầu tiên khi người Pháp trao lại Căn Cứ Không Quân Nha Trang.

Hai chúng tôi có dịp bay chung với nhau trong một phi vụ chiến tranh (mission de guerre) đầu tiên, tại mặt trận vùng Bắc Ninh Hòa, khi vừa mới ra trường. Đây là một phi vụ thực hành khó quên, thử thách tài nghệ tác chiến của hai con chim non vừa mới ra ràng. Chúng tôi bay M.S.500, tôi với tư cách quan sát viên ngồi đàng sau, hướng dẫn Bộ Binh, ga95p rất nhiều trở ngại về liên lạc vô tuyến , không những với các đơn vị dưới đất mà ngay cả giũa chúng tôi nữa. Tôi phải dùng dấu tay khi cần đỗi hướng bay. Chẳng hạn như, nếu muốn quẹo phải, tôi vịn vào vai phải của hoa tiêu và giật mạnh về phía phải, nếu muốn quẹo trái thì nắm vai trái kéo về phía trái. Vì thiếu kinh nghiệm nên chúng tôi rất hoảng hốt khi nhìn thấy pháo binh nỗ dưới đất, không biết tánh ngã nào, sợ phi cơ nằm ngay đạn đao sẽ bị toi mạng. Tôi muốn quẹo trái, hoa tiêu lại muốn tránh về bên phải; bởi dằn co như vậy, nên phi cơ trồng trành làm tôi ngất ngư muốn nôn mữa. Chúng tôi bay gần hết xăng mới trở về đápở sân bay Nha Trang lúc sẩm tối, làm mọi người lo lắng. Ra khỏi phi cơ, tôi bước đi không vững nhưng đã được các huấn luyện viên người Pháp lại bắt tay khen ngợi và mời chúng tôi vào Câu Lạc Bộ uống ly rượu mừng. Lúc đó, tôi chỉ mong về phòng nghỉ cho đỡ mệt mà thôi, nhưng vì lịch sự, tôi gắng gượng đi theo. Đó là phi vụ duy nhất trong đời binh nghiệp tôi bay với anh Võ Dinh.

Anh nào cũng có một biệt danh để nói lên hình dáng hay cá tánh của người đó. Anh Dinh cũng không ngoại lệ, có tên cúng cơm là Dinh Cao vì anh cao đến gần 6 feet, đối với người Việt Nam chúng ta hiếm lắm.

Sau biến cố tháng Tư năm 1975, rất ít người biết tin tức về anh Võ Dinh, nhưng tôi đã liên lạc được, thường hỏi thăm nhau về sức khỏe; có lần tôi hỏi về công ăn việc làm, anh Võ Dinh trả lời Anh cứ tưỡng tượng lúc trước chúng mình mặc áo liền quần mang súng lủng lẳng bên hong, nay thay vì súng, tôi mang con dao và đang làm việc cho một siêu thị. Nghe vậy, tôi hình dung anh ta đang làm việc ở quầy hàng rau trái với con dao sắt bén, chắc rằng cắt chặt rành nghề lắm, như vậy cũng còn khá hơn trường hợp của tôi, đang hành nghề lao công quét rác. Những năm sau này chúng tôi gặp nhau mấy lần và ăn cơm tại nhà ở Corona, California. Trong lúc vui đùa nhắc lại chuyện cũ, anh ta nói Đỗi nghề rồi, nay tôi là y tá lão thành, hạng RN của Trung Tâm Cải Huấn Corona, muốn làm CA nào hay nghỉ lúc nào cũng được.*

Nay anh Dinh đã về hưu, đúng là vui thú điền viên, ngày ngày chăm sóc cây kiểng, hoặc cùng phu nhân đi nhà thờ và xách vợt ra sân tennis. Không những anh chị mà ngay những cô con gái cũng thích chơi tennis nữa. Anh Dinh chơi môn này có hạng, đánh bằng tay trái rất mạnh. Xưa kia, căn cứ Không Quân nào do anh chỉ huy thì phong trào tennis nơi đó phát triển mạnh. Cầu chúc anh chị và gia đình có đượccuộc sống về già êm đềm như hiện nay.

Mai Văn Hạnh, sau ngày tốt nghiệp, chỉ bay trong một thời gian ngắn; khi được đề cử du học, anh ta ở lại Pháp luông không trở về, tưỡng rằng đã quên lãng, nhưng cách nay trên 10 năm, anh Hạnh nỗi tiếng vì đã trở lại Việt Nam hoạt động chống chính quyền cọng sản, bị truy tố. Nhờ chính phủ Pháp can thiệp, anh Hạnh mới khỏi bị liên can và nay hiện đang trú ngụ tại Pháp.

Anh Hạnh dáng người mập mạp trắng trẻo, đẹp trai nên hồi còn là khóa sinh hoa tiêu, anh em đồng khóa thường gọi là Hạnh Tây Lai. Nếu những ai chưa từng biết anh Hạnh này, nhưng đã từng gặp anh Mai Văn Hãi, cựu Trung Tá, hoa tiêu trực thăng, có thể hình dung ra anh Hạnh kia, vì hai anh em ruột này rất giống nhau, nhưng anh Hải vai em lùn hơn.

Dương Thiệu Hùng. Anh Hùng từng là Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Không Quân và Không Doàn Chiến Thuật ở Đà Nẳng. Khi Không Quân thành lập sư đoàn thì anh được bổ nhiệm về phục vụ ở Bộ Tư Lệnh Không Quân cho đến ngày mất nước.

Anh Hùng có bí danh lạ lùng là Hùng Cún. Nhiều bạn trẻ hỏi, tôi không biết giải thích làm sao cho đúng. Theo tôi, có thể anh là một người trẻ của khóa, hay phá phách, hoặc nói rõ hơn, là chọc phá anh em và hay lủi thủi đi chơi riêng rẻ một mình. Nhiều lần thấy vẻ mặt anh rạng rỡ, anh em xúm lại hỏi, anh chỉ tủm tỉm cười, chú tuyệt nhiên không tiết lộ. Nhưng anh ta là người rất vui tính, luôn luôn nụ cười nở trên môi, lúc cười con mắt híp lại và tiếng cười the thé. Anh có lối châm biếm rất độc đáo vì lời nói rất tự nhiên với nét mặt hết sức nghiêm trang; bạn nào thật thà mới gặp anh và đối thoại lần đầu tiên thì không thể hiểu anh nói gì, ngay những kẻ thông minh khi về nhà, nằm vắt tay lên trán mới có thể thông suốt ý nghĩa. Con người thâm thúy như vậy nhưng anh lại có khuyết điểm dễ bị lộ tẩy khi chơi bài mạc chược, (trò chơi phổ thông nhất của giới phi hành để giết thì giờ trong những lúc trực hành quân), hễ khi nào anh huýt sáo hay hát đúng điệu, nhưng đỗi lời do anh chế biến, lại thêm bộ tịch nghiêm trang, mắt nhìn lơ đểnh như đang làm thơ, đó là triệu chứng ván bài của anh lớn. Dĩ nhiên, ba chúng tôi bơm nhau chạy. Bởi vậy, anh thua nhiều hơn được, nên thường tuyên bố Lần này ông chấp, bữa khác sẽ cho chúng bây biết tay*. Chúng tôi chỉ cười trừ thôi.

Khi sang đến xứ này, chúng tôi có gặp nhau mấy lần, lần gần nhứt cách nay đúng hai năm, dịp lễ Columbus, có cả chị Hùng nữa. Hôm đó chúng tôi đến Washington D.C. được một số bạn củ cư trú quanh vùng đãi một bửa cơm thân tình vì rằng anh chị Hùng ở tận Pensylvania, cách bốn tiếng đồng hồ lái xe cũng đến dự. Trông anh chị vẫn còn khỏe mạnh, trẻ trung. Anh nay tóc đã hoa râm nhưng vẫn vui tính như thuở nào, không ai có thể ngờ được tuổi đời gần 70.

Nguyễn Ngọc Oánh: Chuẩn Tướng Oánh là xếp củ của tôi., một chuyện trùng phùng lý thú, chỉ có thể xãy ra trong quân đội mà thôi, vì cấp bậc, khi người này lớn, khi người kia hơn, đão ngược tới hai lần. Chúng tôi cùng ở chung một đơn vị 1ier GAO, là Phi Đoàn Tách Chiến đầu tiên của Không Quân, năm 1953. Mười sáu năm sau, tức là năm 1969, chúng tôi là chánh phó của Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang cho đến ngày mất nước. Trước sau có nhau, chuyện dài kể không hết.

Như trên tôi có nói, anh Oánh là một trong 4 sĩ quan Võ Bị Đà Lạt chuyển sang Không Quân.Về hình dáng, cao không thua gì anh Võ Dinh, nhưng người mập, mặt tròn, trong tướng mạo oai phong con nhà võ, nên được anh em tặng bí danh Oánh Hách. Đúng vậy, chẳng những quân phục luôn luôn thẳng nếp mà ngay cả thường phục cũng rất đúng thời trang. Cách nay hai năm, anh có đến thăm tôi tại nhà ở Houston, cũng vẫn ăn mặc lịch sự như xưa, đồ lớn màu mỡ gà, giày hai màu , dĩ nhiên đầu tóc luôn luôn láng bóng. Nhớ lúc còn ở Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang đi đâu cũng cầm gậy chỉ huy và có lính cận vệ. Có lần chúng tôi cùng đi chung xe Jeep, tôi làm tài xế, anh Oánh ngồi một bên phía trước, hai chúng tôi cùng mang cấp bực như nhau. Khi đi ngang cổng, lính gác ra dấu hiệu, tôi cho xe dừng lại, khi thấy chúng tôi, lính gác chào Chào Đại Tá, và Chào Đại Uùy. Tôi cười thầm, vì mình tướng mạo quê mùa quá. Trong khi đó, anh Oánh lấy gậy chỉ huy gỏ vào nón sắt anh lính gác và bảo Sao chú mầy vô kỷ luật thế? Hãy nhìn cho rõ ông ta mang cấp bực gì? * Anh lính gác có vẻ sợ sệt, vừa dạ dạ vừa xin lỗi, trong thật tội nghiệp. Chuyện này hay xãy ra đối với tôi khi tôi còn biệt phái ở trường Đại Học Quân Sự Đà Lạt. Không cần hách, chỉ cần bề ngoài oai phong cũng lợi lắm chứ, được người ta trọng nể.

Anh Oánh có lẽ là cấp tướng được nhiều quân nhân Không Quân, nhứt là hàng sĩ quan, biết đến nhiều nhứt vì anh có duyên với huấn luyện. Vào năm 1956 anh Oánh là vị chỉ huy trưởng đầu tiên của Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân do người Pháp trao lại từ tay Commandant Carret. Chỉ cách khoảng trong một thời gian ngắn với chức vụ tham mưu và du học khóa Command&Satff ở Hoa Kỳ, sau đó anh Oánh trở lại chỉ huyTTHLKQ trong suốt bảy tám năm liền cho tới ngày mất nước. Thời gian sau là lúc Không Quân bành trướng nhanh theo chương trình Việt Nam Hóa, nên quân nhân các cấp có khi lên hơn năm ngàn khóa sinh đã đến thụ huấn tại TTHLKQ , nên ai cũng biết cấp chỉ huy của trung tâm này hồi đó.

Cách nay hai năm, một số anh em thuộc TTHLKQ củ đã mời anh Oánh đến Houston dự đêm không Gian; trong anh vẫn còn tráng kiện, nhưng xem bộ không mấy minh mẩn vì cần có anh Sơn, cựu huấn luyện viên Trường Phi Hành đi theo giúp đỡ. Có nhiều sĩ quan đến chào hỏi, anh không nhận ra, làm họ ngạc nhiên. Điều nầy đối với tôi không mấy gì làm lạ, anh Oánh là một trong mấy người lớn tuổi của khóa, đã và đang sống đời cô độc, lẽ loi, trong hai mươi năm qua, từ khi phu nhân qua đời vào đầu thập niên 80. Hiện thời, anh đang cư trú tại Glendale, California.

Trần Bá Quy: Anh Quy là một hoa tiêu kỳ cựu, nhưng chỉ bay trong ba năm đầu mà thôi. Đời bay bổng của anh đáng ghi vào mục Không Quân Ngoại Truyện; ở đây tôi chỉ nói phớt qua, mặc dù có nhiều kỷ niệm, không những đã từng sống chết bay chung với nhau lâu ngày, mà còn là chỗ thân tình nữa. Chúng tôi đã từng có mặt tạichiến trường cao nguyên và Huế-Quảng Trị vào năm 1953-54, trước khi ký Hiệp Định Genève. Anh Quy rất trầm lặng, làm chứ không nói, bay bổng rất liều mạng và lái xe cũng tài tình nữa. Ai đã từng bay chung hay đi xe chung với anh đều nhức tim, nhứt là khi bay hợp đoàn, cánh bay của anh để ngay hông giữa cánh và đuôi ngang của leader. Nếu leader nào lo ngại, bảo anh giang xa ra thì anh càng xáp lại gần. Anh đã lập hai thành tích khó quên trong đời bay bổng: 1. Đánh nhau với phi hành đoàn trong lúc đang bay, 2. Bắt buộc Général Le Blanc đang chỉ huy mặt trận, phải cầm manivelle quay máy, trong lúc anh ngồi trong phòng lái M.S.500 ấn nút điện cho máy nỗ. Chuyện nầy tôi đã kể lại trong bài viết Biệt Phái Cao Nguyên ,thật độc đáo, có một không hai.

Năm 1955,anh Quy là sĩ quan Không Quân được biệt phái làm sĩ quan tùy viên cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm hồi dó, vì thân sinh của anh Quy là Quan Nam Triều đồng thời với Tổng Thống Diệm. Khi trở lại Không Quân, anh là vị sĩ quan phi hành duy nhứt giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Quản Trị Không Quân. Sau đó, anh lang thang, hết biệt phái đơnvị này đến đơn vị khác, bởi vậy anh là người mang cấp bậc thấp nhất đối với các anh em cùng khóa. Ngày ra đi, anh chậm chân nên kẹt lại, bị tù đày. Sau ngày phóng thích, anh được con cái bảo trợ đến đất tự do.

Anh Quy có biệt danh là Quy Mập nói lên hình dáng của anh. Thật ra, anh không mập bao nhiêu, chẳng qua hơi lùn. Nhưng nếu so sánh cân lượngcủa anh với dân Mỹ này, đặc biệt là dân Texan thì chẳng thấm thía vào đâu. Nay lại phải trải qua tù đày lao khổ trong khoảng thời gian dài tôi nghĩ rằng biệt danh kia đối với anh Quy không còn đúng nữa. Chẳng hạn như trong anh em chúng ta có anh Vượng Cò, nay nếu có ai gặp lại, sẽ gọi Vượng Phệ mới đúng, phệ còn hơn cả anh Hưng Phệ nữa. Thế mới biết, chỉ có biệt danh về đức tánh mới có thể tồn tại được.

Chú`ng tôi thỉnh thoảng có liên lạc với nhau. Năm ngoái anh Quy gọi tôi từ Miami, Florida nhân lúc anh thăm viếng con cái ở đó, hẹn sẽ đến thăm tôi mộ ngày gần, mãi đến nay vẫn chưa thành. Hiện thời, anh đang ở với con trai tại Toronto, Canada, xứ lạnh quanh năm.

Phạm Long Sửu: Anh Sửu đậu đầu, bằng hoa tiêu mang số 1. Cũng như anh Trần Bá Quy, chuyện bay bổng của anh Sửu đáng liệt vào Không Quân Ngoại Truyện, tôi cũng có nói sơ qua ở hai bài viết Biệt Đội Huế Biệt Phái Cao Nguyên.

Quý cụ thường hay lấy năm sinh đặt tên cho con, trường hợp này rất đúng, anh Sửu có hình dáng cường tráng mạnh khoẻ. Mới gặp qua, vừa giới thiệu tên, mọi người khi đắn đo, cùng đồng thay tặng ngay biệt hiệu Sửu Trâu. Anh có vẻ ấm ức lắm nhưng không thể chối cải vào đâu được, chỉ còn suy tính tìm kiếm những biệt danh khác độc đáo hoặc đặc biệt hơn, như Sứt, Méo , Lợn, để đặt tên cho các anh em khác, trong d0ó có chuyện anh phụ họa với anh Từ Bộ Cam đặt tên cúng cơm cho tôi. Những biệt danh này giữa chúng tôi xử dụng tự do, chứ những người khác không đồng trang lứa, gọi có vẻ e ngại. Chẳng hạn như khi anh Sửa làm Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn Khu Trục, các thuộc cấp gọi anh là Papa Sửu một cách thân tình và quí mến, kể ra cũng đúng vì anh là một trong ba người lớn tuổi của khóa.

Bởi lớn tuổi đương nhiên khôn hơn, lại là người Huế. Nhớ hồi năm 1954-55, khi 1ier GAO đóng ở Thành Nội Huế, những anh em phi hành khác coi anh Sửu như đàn anh trong mọi sinh hoạt, bay bổng cũng như ăn ở, đặc biệt là vấn đề giải trí vì anh Sửu là thổ công, biết nhiều danh lam thắng cảnh của cố đô.

Hồi đó có lệnh nghiêm nhặt, cấm chở thường dân trên xe quân đội, nên Hiến Binh (sau này là Quân Cảnh) của Quân Trấn Huế kiểm soát rất gắt gao, nhứt là xe Jeep trong đó có xe Jeep của Không Quân đặc biệt hơn cả, vì mang bốn số 2222, xe này tôi giao cho anh Sửu xử dụng vì không có tài xế. Xe này thường hay vi phạm kỷ luật, chẳng hạn như chạy nhanh ngoài phố đông người, hoặc xe để ở vệ đường không ai trông coi, bị câu lưu về Quân Trấn. Đó là lúc mấy chàng phi công trồng cây si, cùng kéo nhau vào tán dốc ở các quán tạp hóa có những nàng bán hàng tóc thề xã ngang vai, quần aó trắng tinh đơn sơ nhưng thướt tha, lại ăn nói dịu ngọt. Các anh quên cả giờ giấc, màng gì đến xe cộ. Muốn khỏi cuốc bộ thì gọi quân xa đem xe Dodge ra chở về. Chỉ khổ cho tôi phải đến Quân Trấn năn nỉ đem xe về.

Cũng nhờ sáng kiến của anh Sửu mà Không Quân hồi đó nổi tiếng là đã có nữ phi công. (Chuyện này tôi đã kể ở bài viết Biệt Đội Huế. Nay chỉ nhắc sơ qua).

Một hôm, Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành (trước kia là đơn vị trưởng của tôi, khi tôi còn ở Bộ Binh)Quân Trấn Trưởng gọi điện thoại, tôi rất e ngại, chắc rằng có chuyện nghiêm trọng. Thiếu Tá hỏi:

-Không Quân các anh có nữ phi công há?

Nghe hỏi đột ngột như thế, tôi chưa hiểu chuyện gì, nhưng tôi cũng trả lời:

-Da, một cách ngập ngừng, bổng tôi sực nhớ tới cô nữ Không Quân Mai Thị Bạch Huệ đang làm việc ở đài kiểm soát không lưu Phú Bài, nên mạnh dạng thêm chữ , và tiếp luôn đang làm việc ở sân bay Phú Bài.

-Không Quân các anh bảnh quá há. Tụi nó báo cáo láo. Thiếu Tá Thành nói.

Nghe vậy, tôi hiểu có chuyện bất thường rồi, nên lái sang chuyện khác bằng cách mời Thiếu Tá khi nào rảnh sang Thành Nội bay một vòng bát phố Huế và vùng lăng tẩm. Nhưng Thiếu Tá lịch sự từ chối khéo. Tôi hiểu, vì cách nay không lâu, một hoa tiêu chúng tôi đã bay sáttrên trường nữ trung học Đồng Khánh, cánh phi cơ vướng vào một cây phượng, suýt gây tử thương cho nhiều nữ sinh vì lúc ấy nhầm giờ ra chơi.

Sau đó điều tra, tôi mới vỡ lẽ, xe Jeep Không Quân số 2222 thường hay chở em út đi vảng cảnh lăng tẩm hay tấm biển Thuận An, hoặc khi vào ra cổng Mang Cá, một doanh tại quân sự, cũng là nơi trú ngụ của các chàng phi công độc thân, bị Hiến Binh hay lính gác chận lại để kiểm soát, đều được trả lời các Nàng là nữ phi công vì các chàng phi công thật đã cho các em út này mặc quân phục của mình, có cả đội nón calot va mang súng nữa.(xưa kia, nón calot mũi nhọn chứ không phải nón lưỡi trai như sau này). Hiến Binh và lính gác nghi ngờ nên báo cáo chuyện này về Quân Trấn. Bởi vậy nên Thiếu Tá Quân Trấn Trưởng mới dễ tin lời nói thiếu chính xác của tôi. Nhưng nếu xét cho kỹ cũng đúng, cô Mai Thị Bạch Huệ đã từng bay B-26 không chở hành khách, chỉ tác xạ và thả bom, hễ bay trên phi cơ này tức là nhân viên của phi hành đoàn hay phi công, đâu có sai.

Anh Sửu là một trong những người Không Quân có nhiều cơ may làm lớn. Anh đã từng giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Không Quân, có thể kế thừa chức vụ Tư Lệnh Không Quân, nhưng anh đà chọn con đường tham chính khi Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức vụ Chủ Tịch Uûy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức là Thủ Tướng lúc bấy giờ. Anh rời Không Quân để làm Giám Đốc Hàng Không Việt Nam, cao sang và danh vọng hơn.

Nhưng có lẽ đời anh cũng không may, ai ngờ một người đã từng giữ những chức vụ cao và sang, một hoa tiêu khu trục gộc lại đáp ở chốn rừng núi, thay tôi biệt phái ở trường Đại Học Quân Sự Đà Lạt năm 1969. Và sau đó kẹt lại, bị tù đày. Được phóng thích, anh sang Pháp ở mấy năm rồi mới qua Mỹ. Tôi có gặp anh mấy lần, anh vẫn còn khỏe mạnh, giọng nói vẫn rỗn rãn như xưa. Có hôm, anh đưa tôi lại thăm anh chị Oân Văn Tài. Hiện nay, anh Sửu đang hưởng nhàn tại Glendale, California.

-Nguyễn Thanh Tòng: Phải thêm chữ George nữa mới đúng. Anh Tòng có quốc tịch Pháp, nên biệt danh của anh là Tây Con, rất chính xác về vóc dáng:mập mạp, trắng trẻo, mũi thẳng, tóc hơi qiăn, tính tình nóng nảy nhưng rất thẳng thắn. Anh Tòng mới thật là khóa sinh trẻ tuổi nhất của khóa. Ngoài tài lái tàu bay, anh chơi pingpong rất hay. Anh rất vui nhộn nhất là khi đi ta91m, ai cũng nhường cho anh tắm trước vì anh mang bộ đồ Oâng Adong đi long nhong từ phòng ngủ đến phòng ta91m, vừa đi vừa kêu réo bạn bè om sòm. anh từ Biên Hòa biệt phái ra Đà Nẳng, sau khi hoàn thành công tác anh đến

Anh chỉ bay M.S.500 một thời gian ngắn, sau đó bay khu trục F-8F. Nhớ hôm thămtôi nói chuyện rất chân tình trước khi trở về đơn vị, anh đã thân mật bắt tay tôi mà nói.Tôiđến chào anh vì rồi đây không biết chúng ta còn cơ hội gặp nhau nữa không ? Lúc đó tôi không hiểu ý nghĩa của câu nói tế nhị này, chỉ e ngại anh sẽ làm sự gì dại dột, nên tôi theo anh ra tận phi đạo, chờ cho tới khi anh cất cánh an toàn, tôi moới trở vào. Chiều tối, không thấy anh Tòng trở về căn cứ Biên Hòa, cả Không Quân nhốn nháo, tìm kiếm khắp nơi vẫn bặt tin. Tối đó, tôi ngủ chập chờn, hễ mỗi lần nhớ đến câu nói hồi chiều, tôi lại nghĩ đến những điều bi quan, nếu xãy ra thì tội nghiệp biết mấy cho người bạn trẻ mà tôi thương mến.

Mãi cho đến ngày gần đây, sau hơn 40 năm, một người trong cuộc, cũng là nhân chứng cho tôi biết các chi tiết rất quí giá sau đây: Hôm đó Bộ Tư Lệnh Không Quân biệt phái 4 chiếc F-8F từ Căn Cứ Không Quân Biên Hòa ra Căn Cứ Không Quan Đà Nẳng với nhiệm vụ đặc biệt, hộ tống Tổng Thống VNCH đi ra Đông Hà thám sát vùng Sông Bến Hải, Vĩ tuyến 17 là ranh giới chia cắt đất nước làm đôi từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 theo Hiệp Định Genève..Bốn hoa tiêu khu trục trong phi vụ này là anh Lưu Văn Đức số 1, anh Nguyễn Quang Tri số 2, anh Phạm Phú Quốc sô 3 và anh Nguyễn Thanh Tòng số 4.

Sau khi thi hành xong phi vụ hộ tống, phi tuần lên đường trở về Căn Cứ Biên Hòa ngày hôm sau. Thứ tự cất cánh của phi tuần đã được sấp xếp như hôm trước, nghĩa là anh Nguyễn Thanh Tòng cất cánh cuối cùng. Các số 1, 2 và 3 đã bay lên đến Faifo mà chưa thấy số 4 là anh Tòng tập họp. Khi nghe anh Quốc bay số 3 báo cáo là không thấy anh Tòng đâu cả, toàn bộ phi tuần quay ngay lại thì thấy bóng chiếc máy bay của anh Tìng khoảng Đèo Hải Vân, nhờ màn khói xịt đen sau máy bay, có nghĩa là anh Tòng đã bay với "full power", có để "booster pump xăng" ở mức công suất tối đa. Khi phi tuần bay đến Đèo Hải Vân thì máy bay anh Tòng ở khoảng ngang Huế, trực chỉ hướng Bắc. Là bạn đồng đội, ai nhìn thấy hướng bay này cũng ái ngại cho anh Tòng. Nhưng anh Tòng đã dùng hệ thống vô tuyến riêng mà các đài kiểm soát không bắt được để liên lạc với phi tuần, rằng:"Hy vọng chúng ta còn có ngày gặp lại nhau vui vẻ, các anh đừng lo cho tôi." Cùng bay một loại máy bay, đặc tính giống nhau, nay máy bay anh Tòng đã bay cách xa nên phi tuần không thể đuổi kịp. Nay nghe anh Tòng nhắn nhủ như vậy, mọi người hơi yên tâm, quay trở lại bay về Căn Cứ Không Quân Biên Hòa. Nhưng chỉ có sô 2 và sô 3 đáp ở Biên Hòa, còn số 1 phải đáp Tân Sơn Nhứt để báo cáo sự việc vừa xày ra cho Bô Tư Lệnh Không Quân.

Sau đó nghe tin anh Tòng đã đáp xuống sân bay Seno, bên Lào. Bấy giờ tôi mới an lòng và thấu hiểu câu nói thân tình của anh khi bắt tay từ giả tôi. Tiếp theo, anh Tòng sang Pháp và gia nhập Không Quân Pháp, đúng sai, tôi cũng không rõ. Và trong thời gian sống lưu vong, tôi có người bạn cho hay có gặp anh Tòng tại đất Mỹ, kể rằng anh Tòng vẫn khỏe mạnh và chững chạc, điềm đạm khác hẳn ngày xưa. Tôi rất tiếc không gặp được anh Tòng trong dịp hiếm có này sau trên bốn mươi năm xa cách. Hiện thời, anh Tòng đang ở bên Pháp.

-Vũ Văn Ước: Anh Ước có biệt danh là Ước Lùn, nhưng những năm sau này anh em gọi một cách thân mật hơn là Anh Năm Ngắn. Anh thường tập đòn ngang cho người dài ra, rất đúng, nhưng khổ nỗi, anh lại tập tạ nữa thành thử con người anh rắn chắc và tròn trịa; anh co tay lại, bắp tay của anh to bằng bắp vế của tôi. Đối với tôi, anh Ước là một nhân vật đặc biệt, đa tài không ai bằng, là thầy check tôi lái L-19, và đáng bậc tôn sư mạc chược, đánh tennis giỏi va đàn ca hay, thỉnh thoảng làm thơ nữa.

Hồi đang còn học bay, anh Ước thoát nạn phi cơ trong lúc bay tập một mình tại vùng, đã bị một bạn đồng khóa xâm phạm vùng bay và đâm phải. Thấy bạn mình rớt tàu bay ngay trước mắt, nhưng anh Ước vẫn bình tĩnh và can đảm lái phi cơ về đáp an toàn.

Chuyện xảy ra như sau: Ai đã từng học khóa hoa tiêu ở Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang đều biết, là khóa sinh khi bay tập một mình, vì vấn đề an phi thường được nhắc nhở trước khi bay ra vùng thực tập phải bay qua điểm chuẩn (check point) trước, rồi mới lấy hướng bay đi. Chẳng hạn như muốn tới vùng Cam Ranh, phải đi qua điểm Cầu Đá, chứ không phải vứa cất cánh lên là lấy hướng Cam Ranh ngay, có khi vô ý có thể bị vướng dày núi Đồng Bò, Thùy Triều. Hôm ấy, anh Ước thực tập bay quẹo gắt 15 độ, 30 độ và 45 độ. Nửa giờ đầu không có chuyện gì xày ra. Cho đến khi anh Ước nghiêng phi cơ về trái để thực tập quẹo gắt 45 độ; khi cánh trái ở vị thế dưới, anh Ước chú tâm vào các phi cụ, giữ bi ở giữa, mũi phi cơ phải ngang với chân trời, tốc độ phải đúng, nếu không tày bay sẽ chúi mũi hay bị xìa (glissade) một bên. Ở vị thế này, tầm nhìn ra ngoài cũa hoa tiêu bị hạn chế, và chính lúc này, anh Ước đang tập trung hết tâm trí để hoàn thành vòng quẹo, bổng nhiên anh nghe một tiếng động kinh hồn. Chưa hiểu chuyện gì vừa xãy ra, nhưng phi cơ anh đang lái bổng quẹo gắt về phải và vào vòng xoay. Anh chưa kịp phản ứng thì thấy một vật to lớn màu xanh lá cây đang vụt rơi từ trên xuống, và khi chạm đất nghe một tiếng "bịch" rợn người. Được huấn luyện viên chỉ dẩn tận tường về vân chuyẻn của vòng xoáy và phương thức gở vòng xoáy như thế nào cho an toàn, nên anh Ước đã có khái niệm vững chắc khi gặp thế bay nguy hiểm này. Hơn nữa, anh Ước còn được Capitaine Fatio, Giám Đốc Trường Phi Hành chỉ định làm huấn luyện viên về môn "Mecanique du Vol" cho khóa 2 hoa tiêu kế tiếp. Anh Ước đã áp dụng những gì vừa học hỏi để gở vòng xoáy, để lấy lại hướng mũi của phi cơ, song phi cơ vẫn tiếp tục xoáy. Nhưng anh Ước vẫn kiên trì, làm đi làm lại hai ba lần, cuối cùng, cần lái có phản ứng trong lúc đó thì cao độ cứ mất dần, từ 500 mét cao độ nay chỉ còn sát mặt đất. Thấy quá nguy hiểm, anh Ước bớt ga để phi cơ giảm tốc độ tư từ, và cứ giữ vị thế này, nghĩa là cần lái đem hết về phía trái để nâng cánh phi cơ lên mà nâng không nỗi, phi cơ lúc nào cũng nghiêng về bên phải. Giờ đây, anh Ước lại tống thêm ga để khỏi mất cao độ. Liếc nhìn qua cao độ kế thấy kim chỉ 50 mét, anh Ước hết sức cố gắng giũ cao độ này, đồng thời gọi đài kiểm soát xin đáp khẩn cấp, thẳng vào phi đạo 12. Khi phi cơ chạm bánh an toàn, giờ đây anh Ước mới hoàn hồn, liếc nhìn ra ngoài, thấy cánh hphải phi cơ bị rách gần hết 90%, ngay nơi phần cản gió (bord d’attaque). Khi phi cơ của anh Ước vừa vào bến đậu chưa kịp bước ra khỏi lòng phi cơ, thì cả trường phi hành kể cả giám đốc Capitaine Fatio và các huấn luyện viên đều có mặt, họ dìu anh Ước ra khỏi phi cơ, đưa vào phòng thuyết trình, rồi tập họp điểm danh các khóa sinh, thấy thiếu anh Nguyễn Tâm Đăng. Câu hỏi được đặt ra là tại sao anh Đăng lại bay sang vùng thực tập của anh Ước, mặc dầu theo lệnh bay ghi rõ ràng, anh Đăng bay ở một vùng khác, xa vùng của anh Ước? Không cần truy nguyên do cũng có thể hiểu được anh Đăng thường tỏ ra mình tài ba, vì thuộc gia đình quyền quí, con của một Đốc Tờ, học trường Tây, thông làu Pháp ngữ, nên tự cho mình bay giỏi hơn những người khác, thường hay nghịch ngợm, vi phạm phi hành. Bởi thế, anh đã trả một giá quá đắt. Đáng tiếc thay cho một hoa tiêu tiên phong gảy cánh khi mộng bay bổng chưa thành.

Lần đầu tiên tập lái với anh Ước, bay từ Nha Trang ra Đà Nẳng, tôi không tin tưởng mấy, vì anh huấn luyện viên, người thấp ngồi ghế sau của L-19, sợ không thấy đường, lại gió ngang nữa, nhưng anh đáp rất hay.

Chơi mạc chược, anh ta là hạng sư, người mới tập đánh sẽ hoa mắt khi nhìn thấy anh sắp xếp bài. Anh có cái lối múa bài ra đằng sau lưng, rồi thẩy lên, nhặt lại, tài tình không thua gì những anh hề múa thảy trái cầu trong các gánh xiếc. Nhưng hãy coi chừng, bài của mình có thể thừa thiếu, nếu như mãi mê xem anh ta biểu diễn, vì tay anh Ướ lẹ làng lắm, thảy vào hay cướp nhặt một con bài của chồng bài mình hồi nào không hay. Anh Ước rất giỏi về Anh văn, năm 1956, đa số anh em Không Quân còn học Anh văn tại Hội Việt Mỹ thì anh là người đầu tiên được chọn học khóa SOS. M Bởi vậy, anh là tác giả Anh Văn Mạc Chược, truyền đến bây giờ vẫn còn thông dụng, chẳng hạn như: Never eating by the door, Even the couple, even the middle, Losing flowers,dropping leaves. Những ai chơi mạc chược sẽ hiểu nằm lòng câu Anh vạn này. Anh Ước đoán bài rất hay, những khi bài anh ta lớn, bắt buộc phải đánh cây bài độc ra, sợ người khác ù, nhưng anh không nhịn được, anh thường xổ một tràng thổ ngữ này và nắm một tay bài dằn lóc cóc trên bàn, rồi liệng cây bài ra thật nhanh lẫn lộn vào giữa. Vậy hãy chú tâm mà coi chừng.

Ngoài ra, anh Ước còn có tài đàn hát nữa. Bửa tiệc bạn bè nào có anh Ước tham dự,bầu không khí vui nhộn hẳn lên. Phong trào Ca Ra là OK đối với anh là tập sự con nít. Phần anh, thuộc nằm lòng những bài hát ngoại quốc trử tình hay hùng hồn. Vì những bài hát này mới hợp với giọng ca của anh.

Anh Ước chơi tennis cũng hay, tuy anh lùn nhưng chạy rất nhanh, nhứt là khi anh đứng gần lưới; muốn thắng thì nên lốp ra đằng sau lưng. Nay anh chơi chỉ để giũ gìn sức khỏe, chứ không còn ham mê như hồi trước nữa.

Anh Ước người vui tính. Ai đã gặp qua anh một lần sẽ nhớ mãi. Đối với bạn bè thân, anh nói chuyện nửa đùa nửa thật, nhưng rất có duyên. Nhớ hồi anh nằm nhà thương, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ vào thăm (kể lại), anh Ước vẫn đùa cợt bảo Oâng ơi, mấy đố tờ Mỹ mỗ mình như mỗ gà, các bộ phận trong thân thể mình, họ coi như pha, cắt bên này ráp vào bên kia như vá xe đạp*. Ai nấy đứng quanh giường bệnh cũng phì cười và cũng không cần chúc mau lành thì anh cũng bình phục nhanh chóng vì bản tánh lạc quan cố hữu.

Anh Ước đã từng giữ chức vụ Không Đoàn Trưởng và Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân cho tới ngày mất nước.

Chúng tôi thường liên lạc với nhau bằng điện thoại, thỉnh thỏang anh email thăm hỏi bạn bè, kèm theo vài câu thơ rất lý thú. Anh hiện đang cư ngụ vùng Westminster, California nhưng vẫn còn nặng nợ mưu sinh.

Anh Ước hiện còn giữ tấm hình lưu niệm của 11 khóa sinh dân chính, tôi hân hạnh được xem, từ trái sang phải, hàng đứng: Tòng, Phước, Đằng, Sửu, Hùng, Hạnh; hàng ngồi: Các, Bổng, Khánh, Ước, Quy.

x x

x

Hồi còn ở trong quân ngủ, không ai thích có điểm danh, chỉ muốn bình lặng để có thể chuồng trốn đi chơi. Trái lại, cuộc điểm danh lần này, theo tôi, ai cũng muốn có mặt. Trong số 15 hoa tiêu tiên phong kỳ cựu, nay chỉ còn 8 vị, hiện đang sống 1 ở Canada, 2 ở Pháp, và 5 ở Hoa Kỳ.

Tôi chắc rằng những ai còn sống cũng đều cảm thấy rất may mắn vì đã vượt thắng không biết bao nhiêu nguy nan gian khổ, trong lúc các bạn đồng khóa đã ra người thiên cổ. Không biết lần điểm danh tới, số hiện diện có còn đủ không? Nhưng nếu Thượng Đế điểm danh thần dân của cung đình, thì ai cũng muốn vắng mặt, đúng với tâm trạng của một ông bạn tôi đã nói*Nếu Trời gọi tôi, tôi sẽ đáp I am absent*. Vắng mặt mà được à, mệnh Trời làm sao tránh khỏi. Nếy hiểu như vậy, thì những ai còn tại thế hãy nên bình thản va vui vẻ sống những ngày ngắn ngủi quí báu còn lại.

Trần Phước

1