Make your own free website on Tripod.com

TẾ BẠN

Đặc San KHÔNG QUÂN Bắc California số tháng 10-92, bài

Giỗ Mười Năm của Thiếu Tướng VÕ XUÂN LÀNH

Đã trích đăng một đoạn trong LÝ TƯỞNG số 9 tháng 12-1982, ấn bản Bắc California:

Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, cựu Tư Lệnh Phó Không Quân, từ trần ngày 29 tháng 10 năm 1982 lúc 05 giờ sáng tại Mountain View, California.(nhằm ngày 13 tháng 09 âm lịch năm Nhâm Tuất – hưởng thọ 51 tuổi).

Để lại vô vàn thương tiếc trong lòng bằng hữu, chiến hữu, và những người quen biết.

Người lành như tên.

Động viên khóa 01 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Từ khi là một Sinh Viên Sĩ Quan, và về sau giữ nhiều chức vụ chỉ huy cao cấp, suốt 24 năm quân ngũ, suốt cuộc đời, không hề một lần nặng tiếng, không hề một lần to tiếng với bất cứ một ai. Hòa nhã, nhường nhịn quý mến bạn bè, thương mến thuộc cấp như anh em.

Ra trường Thủ Đức năm 1952. Đậu cao, có thể chọn phục vụ các cơ quan tham mưu hay yểm trợ ở hậu tuyến, đã tình nguyện đi đơn vị chiến đấu.

Xuất thân ngành quan sát, chuyển qua oanh tạc cơ, khu trục, nhưng đã lái tất cả các loại tàu bay của Không Quân Việt Nam, và loại nào cũng lái rất cừ. Là một trong hai hoa tiêu bay thử (pilote d’essai)chiếc Thần Phong, chiếc phi cơ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, do KQVN vẽ kiểu và đóng lấy vào năm 1974.

Ở các chức vụ chỉ huy, lúc nào cũng làm gương cho thuộc cấp. Khi còn là Chỉ Huy Trưởng Không Đoàn 23 Chiến Thuật, mặc dầu công việc bề bộn, đã bay chiến đấu đều đặn hàng tháng một số giờ bay kỷ lục, trên dưới 100 giờ A-1H. Khi về Bộ Tư Lệnh, vẫn thường bay hành quân với các đơn vị các ngành.

Về khả năng, những năm sau cùng trước 1975, đã được bình điểm:"Thừa khả năng đảm trách chức vụ Tư Lệnh Không Quân."

Đã du học ở Pháp, ở Mỹ, đã công cán khắp năm châu, nhưng vẫn thường bảo:"Không đâu đẹp bằng quê hương". Đã viết văn, đăng ca ngợi tình đất nước dân tộc, tình chiến hữu, bút hiệu là Anh Vũ.

Là một tướng lãnh thanh liêm, suốt đời thanh bạch, nghèo.

Năm 1975, tị nạn di cư qua Mỹ. Khi xuất trại không có tiền thuê nhà, đã chọn một họ đạo bảo trợ lên miền hiu quạnh Chico, tá túc một hai tháng đầu. Tìm được việc làm công cho một tiệm bánh bột gạo, tự túc với đồng lương tối thiểu, vừa đi làm, vừa đi học điện tử.

Anh em lên thăm, thấy gia đình ở trong một cái nhà xe cũ nát mà người chủ sửa chữa sơ sài cho mướn làm nhà ở, chật chội và thiếu ánh sáng, vời về Sacramento, nhưng đã khước từ:"Dầu biết thất trận không do Quân Đội chúng ta, nhưng dầu gì thì dầu, thân làm Tướng bại trận, lại còn Zoulou, mặt mũi nào gặp gỡ anh em. Càng không dám làm phiền anh em."

Năm 1977, vì sinh kế, dời về Mountain View, thuê nhà ở khu lợi tức thấp. Ngày đi làm, tối đi học BS Điện Tử ở SJSU. Chị Lành cũng đi làm. Nhưng còn thân nhân bên nhà, nên gia đình cũng chỉ đủ ăn đủ mặc.

Lắm lần anh em đến thăm, các Đoàn Thể mời mọc tham gia, đều trả lời:"Tôi là lính, khi nào cần đến tay súng xin có mặt."

Tháng 05-1982 ngã bệnh, nhưng vẫn đi làm, đến tháng 8 thì liệt giường. Chị Lành nghỉ việc ở nhà ngày đêm chăm lo săn sóc.

Anh em đến thăm. Nằm trên giường bệnh, xanh xao, biết mình sắp mất, nhưng vẫn sáng suốt, trầm tĩnh, tinh thần vẫn khang kiện, vẫn dí dỏm ý nhị, xem cái chết như chuyện đi về.

Đã trối với một người bạn:"Tôi có hai điều sản khoái lớn trong cuộc đời. Một là đã chọn phục vụ trong Không Quân, hai là chọn vợ. Hai điều đó tôi đã không lầm. Bảy tám năm nay, và bây giờ đây, vợ như vậy, anh em Không Quân đối đãi như vậy, thì thiệt là Trời thương tôi thật nhiều. Cho tôi gửi lời cám ơn tất cả anh em. Đại cám ơn. Dùng cho tôi chữ đại, đại đại. Duy chỉ có một điều buồn, là ngày về tôi không được có mặt, không còn được sát cánh cùng anh em."

Với ghi chú:

Mười năm đã qua. Thời gian đủ để nhạt nhòa, nguội lạnh!!! Nhưng anh em vẫn hằng thương tiếc. Những khúc quanh, những chuyển mình của quê hương như nhắc nhở, thôi thúc bao người đã một thời ngang dọc nhớ về cố lý xa xôi. Và hằng ước mong một ngày về không xa. Nhưng ngày về đã"… không còn sát cánh cùng anh em" trùng phùng trên bầu trời yêu dấu quê mẹ.

**

Sau đây là văn TẾ BẠN của bốn Niên-Trưởng Trần, Hoàng, Đỗ, Lại, bạn thâm giao của cố Thiếu Tướng:

Tha hương tị nạn thập thất niên, nhất cửu cửu thập nhị tây lịch, thập nguyệt, nhị thập cửu nhật,O-lem-bia, thủ đô bang Oa-sinh-tân, Hợp Chủng Huê-Kỳ Quốc,

TRẦN, HOÀNG, ĐỖ, LẠI

bốn tên còn nặng nợ trần ai, thân "trai già" luân lạc tha hương bài-xai bái-xái,

tên chạy Bắc, tên chạy Nam Ca-li-phọt-ni-a, tên dông tuốt qua Tét-xa, đứa lang thang Oa-sinh-tân xì-tát.

ới nhau về thủ phủ Oa bang, có chút lễ mọn, nghiêm trang tế cố Thiếu Tướng VÕ XUÂN LÀNH chi linh.

**

Nhớ thuở sinh thời, ít ăn ít nói, người gầy ốm roi-roi mà tâm sức dai bền. Lúc mới động viên cũng như khi lên tướng, với bạn với bè với anh với em tận tình thương như thủ túc ruột thịt; với đào với địch tận lực bình sanh xả láng thả dàn ư phong độ.

La-ve khi "dô" một lần hai ba bịch,cỏ nhác cả chai. Ngày bay hành quân diệt giặc; chiều chiều khi thì "còm măng" Eùtoile de Gia Định, khi AJS,khi Thương Cảng,khi Hãng Xi-Măng Hà Tiên, khi đội Sakymen mền long vịt vô sân Bộ Tư Lệnh giao hữu đá đèn. Trên sân cỏ, chỉ nghe hoét-hoét tiếng còi tu-hít thổi, mà chẳng nghe các cầu thủ lỗi phải nói năng chi. Vì "tàn" là các đội oải-gân-chi-lão-tướng. Nội lừa banh , rượt banh là chối phổi, hộc xì-dầu, còn hơi sức đâu mà la với ó! Xong trận đấu, Tướng-quân cho bày trận "uých-ky thau", "cỏ-nhác-chậu", nhậu giao tình nhậu bằng gáo chẳng nhậu bằng ly; chưa được "troa cu-li" các lão tướng đã bì-ti bí-tỉ.

**

Nhớ linh xưa, Tàu, Tây, Nam Mỹ, Huê-Kỳ, Uùc-Đại-Lợi, Nhựt-Bổn, Đại-Hàn, Thái-Lan, Chà-Và, Ma-Ní ma-nung, đi khắp cùng bốn biển năm châu. Tới đâu đâu, ngay nội đêm đầu đã "trả-thù- dân-tộc", hoặc gieo rắc móng mầm văn hóa Phi Long.

Tư ra tư, công ra công. Việc làm xong việc chẳng làm xong giờ. Danh lợi tỉnh bơ, xem nhẹ tơ bèo mây như bọt nước. Trước sau chỉ vì TỔ-QUỐC KHÔNG GIAN.

Quanh năm suốt tháng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, độc bộ đồ bay không lon không nón. Nhớ khi còn "coi" Phi Đoàn 514 ở Biên Hòa, một buổi hậu phi chạy Mobilette cà-rịch cà-tàng ra cổng đi mua bao thuốc lá, gặp chú Cu-Cê mới đổi về chưa rõ mặt "bầu cua", cà-rỡn cà-rề chận đường hỏi giấy:

-"Hà hà! Lón không đội, non không mang, giấy tờ lại không lốt! Đừng tưởng pi-nốt rồi nàm ngang! Chàng ràng nà a-nê, qua nhúp!".

**

Lúc sinh thời, giúp ai giúp tận tình. Việc mình, việc người, làm việc gì làm tới nơi tới chốn. Gặp khó chẳng bồn chồn, khốn nguy không hề lấn bấn.

Tánh tình chân thật, lòng dạ thẳng ngay. Ít ăn ít nói, nhưng đã nói thì nói thẳng nói ngay, chẳng nói xà-quần xà-quạng.

**

Không Quân ta trang bị cả chục loại tàu bay, cánh quạt, phản lực, không loại nào là không lái. Khu trục, vận tải, quan sát, liên lạc, trực thăng, oanh tạc, vân vân, hễ cầm tới cần thì tàu gì thì tàu, tàu nào cũng lên ráo nạo; đánh địch ngoại biên, đánh trong Nam, đánh ngoài Bắc, thả bom bắn súng ào-ào.

Những tưởng có bạn có bè có anh có em cùng vào sinh ra tử, đến ngày dẹp sạch cộng nô, quét tan lũ cáo chòm hồ, ta thư thả lui về dưỡng già nơi thôn ổ, vui thú điền viên.

Nào ngờ cao xanh kia độc địa đảo điên bày ra một trận tan hoang, tan hàng rã ngũ. Tháng tư bảy nhăm ngày hăm chín, Tướng-quân cố thủ Hành Dinh, đến chừng có lệnh mới ra đi, chớ không tham sinh úy tử mà chạy xịt chạy càn, dzọt ngang dzọt ẩu.

**

Ô-hô! Qua đây,trìu-trịu lòng sầu viễn xứ. Xứ ta. Mà đây xứ người. Xứ người! Xứ người nào phải xứ ta(!).

Trên bảy năm dài đăng-đảng ngày đêm tưởng nhớ quê nhà, lại ngán ngẩm cái tình đồng-minh lơ-là đen bạc, chán chê cái nền "văn-hóa đồng đô", con người nô lệ cho tiền, Tướng quân rủ áo ra đi về miền vĩnh cửu.

Khiến cho các hữu, nào thân, nào bằng, nào chiến, vô vàn tiếc thương tưởng nhớ.

Thôi thế là đôi đường âm dương cách trở. Gặp lại nhau chăng họa là trong giấc mộng, trong mơ.

Ngày 29 tháng 10, 82 Tướng-quân đã "tách vòng chờ", trực thăng hạo nhiên cực lạc, cõi nát-bàn ngày tháng dong chơi, nơi nước nhược chốn non bồng nhìn xuống hồng trần chắc Tướng-quân cười bễ bụng.

Cười thì cười chúng tớ còn nặng nợ đời lăng-nhăng cơm áo, lát-xát lao-xao, chứ chắc cũng có thương cho chúng tớ thân già đà lão nhược, còn lận đận lao-đao lúng-ba lúng-búng lùng-bà lùng-bùng nơi đất lạ, xứ người ta. Thương là thương cho đời son trẻ chúng tớ cũng "ra gì", lả lướt hào hoa, mà giờ lụm-cụm lạc-cạc; một thuở dọc ngang mà giờ đây đành xếp xó, tên tuổi còn đó mà người thì như cọng bún thiu, buổi chiều của cuộc đời lang bang thiệt là xơ xác.

Thôi thì phận bạc rác rơm, thân ăn nhờ ở đậu, lấy đâu mà mâm cao cổ đầy, lấy gì mà bày vẽ vàng thoi bạc nén!

Thôi thì, tàm-tạm một thùng Hennessy extra old, một két Dom Perignon extra sec mấy tên bên Tây mới gửi qua còn cày khoen gắn xì cửn-thựn, mấy con cá mú chưng gừng, một lưng con sò, một đấu con hào sống, một mâm lòng lợn mấm tôm với rau thơm rau húng, tiết canh vịt, bún vịt xáo măng , cộng hằm-bà-lằng-xắng-cấu;

Tướng-quân chi linh đang vui thú đâu đâu cũng xin về thượng hưởng!

**

Bốn tên nâng ly cỏ-nhác, mấy khúc dồi trường, xin lỗi! Mấy tên nâng ly mà mấy khúc đoạn trường!

À, mà quên, chưa thấp hương nhang! Chúng tớ xin gởi một triệu đô-la-giấy-vàng để Tướng-quân làm lộ phí.

Tướng-quân cần gì, xin cứ bảo! Tụi này giàu có chẳng hơn ai, nhưng cái cỡ vài ba tỉ có khó khăn gì! Xin Tướng-quân cứ rộng tay chi, cho tiên nữ Thiên Đình lác mắt, cho các nàng biết mặt Không Quân.

Tướng-quân lúc sinh thời, kiệm cần liêm chính, một trinh cũng chẳng tơ hào; vậy chúng tớ xin được móc hầu bao, gởi để Tướng-quân tiêu tạm đô-la-giấy-vàng dăm tỉ!

**

Sinh vi Tướng, tử vi Thần,

Sống làm Tướng, chết làm Thần. Thần thì chắc phải linh, xin Thần độ mạng anh em sớm sớm được về nơi cố quận!

Thần chắc phải linh, xin Thần về chứng giám! Lễ bạc lòng thành. Ô hô!Thượng hưởng!

TRẦN, HOÀNG(ngọc bào), ĐỖ (trang phúc), LẠI(như sơn)

Đồng bái … bai

29 tháng mười 92

không rõ có phải tại Olympia, WA.